Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

CÁC THẦY GIÁO TOÁN TẠI TRƯỜNG PETRUS KÝ CỦA TÔI.

 

Hướng đến kỷ niệm 100 năm thành lập Trường Petrus Ký – chuyên Lê Hồng Phong, xin trân trọng giới thiệu bài viết "Các Thầy Giáo Toán tại Trường Petrus Ký của tôi" của thầy Võ Anh Dũng. Qua những hồi ức chân thực và giàu cảm xúc, tác giả đã tái hiện hình ảnh các thầy giáo Toán tài năng, tận tâm, những người đã góp phần làm nên truyền thống hiếu học và danh tiếng của ngôi trường có bề dày lịch sử gần một thế kỷ.


Tôi học trường Petrus Ký 6 năm, 1966 – 1972, trải qua các lớp: Thất1, Lục1, Ngũ1, Tứ1 (sau đổi thành 9/1), 10B1, 12B1. Sáu năm học Toán với tám Thầy, mỗi người một vẻ, mỗi người một tính cách nhưng tất cả đều để lại những ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp góp phần tạo nên phong cách người Thầy của tôi khi tôi nối nghiệp các Thầy sau này.
Sau những ngày choáng ngộp, hảnh diện của các chú bé lần đầu bước vào ngôi trường Petrus Ký cổ kính, to lớn, xinh đẹp, danh tiếng chúng tôi trở lại thực tại để làm quen với những thay đổi trong cách dạy, cách học của bậc trung học. Thay vì một Thầy một trò như lúc học tiểu học nay thành 10 môn với 10 Thầy Cô: Quốc văn, Sử địa, Pháp văn, Công dân, Toán, Lý hóa, Vạn vật, Hội họa, Nhạc, Thể dục. Môn nào cũng mới lạ. Mới từ nội dung chương trình cho tới cách dạy, cách học.
Môn Toán lớp Thất1 năm học 1966 – 1967, do Thầy Trần Văn Thưởng phụ trách. Lúc dạy chúng tôi, Thầy là một thầy giáo trẻ, mới 29 tuổi nhưng Thầy chửng chạc, nghiêm trang không thua gì những thầy cô đứng tuổi như giáo sư hướng dẫn của chúng tôi là Thầy Thẩm Túc. Thầy có những yêu cầu rất rõ ràng và nghiêm khắc. Riêng về tờ giấy làm bài kiểm tra thôi, Thầy bắt buộc nó phải được gỡ ra cẩn thận từ tập chớ không giựt mạnh tạo ra lỗ thủng to ở giữa, khung cho điểm và lời phê phải đúng số ô và nội dung qui định. Hể không đúng là a lê: zero tất! Lớp đệ thất học vào buổi chiều. Những giờ học đầu buổi trưa, chiến thắng buồn ngủ là một cuộc chiến đấu. Tuy nhiên, trong giờ học của Thầy, bạn nào lỡ dại ngáp là thôi rồi: zero!
Sau này khi học Đại học Sư phạm Sài gòn với Giáo sư Nguyễn Văn Trường, nguyên Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục của Thủ tướng Trần Văn Hương, tôi gặp lại phong cách Thầy Trần Văn Thưởng. Khi đó các lớp bắt đầu học lúc 8 giờ, tức 7 giờ hiện nay, thì riêng lớp Thầy Trường học từ 7 giờ, tức 6 giờ sáng hiện nay. Khi Thầy cầm cục phấn mà bạn sinh viên nào mới đến lớp thì Thầy nói: Xin lỗi anh, tôi dã cầm phấn, mời anh đi về!
Môn Toán lớp đệ thất gồm hai phần: hình học và đại số. Phần hình học lúc đầu rất là lạ đối với chúng tôi. Tại sao phải thừa nhận những điều hiển nhiên đúng: Qua hai điểm phân biệt có một và chỉ một đường thẳng? Tại sao phải chứng minh hai tam giác bằng nhau khi mà sự thực như vậy? Tuy nhiên với lời giảng rõ ràng, khúc chiết Thầy đã tạo cho chúng tôi sự thích thú trong những giờ Toán của Thầy. Trong vài tháng đầu, có bạn không giữ đúng các qui định của Thầy và Thầy không ngại ngần cho con zero tròn trĩnh. Không biết những con zero này Thầy có thực sự tính vào điểm số không hay là chỉ dọa để chúng tôi học hành đàng hoàng. Môn Đại số tôi nhớ học những phần cụ thể hơn Hình học như số nguyên, tính chia hết, bội số, ước số, số nguyên tố…
Sang lớp đệ lục 1, năm học 1967-1968, chúng tôi lại được Thầy dạy tiếp môn Toán. Năm này Thầy trò đã quen thuộc nhau nên chúng tôi học dễ dàng. Tôi nhớ môn Hình học năm này đa dạng, phong phú hơn: sự song song, vuông góc, hình bình hành, hình thoi, chữ nhựt, vuông… Đại số thì bắt đầu học giải phương trình. Năm học này do chiến sự, Tết Mậu thân 1968, nên chúng tôi chỉ học hết đệ nhất lục cá nguyệt mà thôi. Năm đó nghỉ Tết rồi nghỉ học luôn đến tận năm học sau.
Thầy Thưởng là người Thầy Toán đầu tiên bậc trung học của tôi và cũng là một trong những Thầy tạo cho tôi ấn tượng sâu sắc. Sau này khi nối nghiệp Thầy dạy Toán, tôi mới thấy hết những cái hay của Thầy. Thầy chẳng những khai phá đầu óc non nớt của chúng tôi bằng những lý luận toán học chặt chẽ mà còn rèn luyện nền nếp học tập, cách suy nghĩ hợp lô gic cho chúng tôi. Chính những kiến thức toán học này đã xây dựng cho chúng tôi cách suy luận, cách hành động phù hợp với những “định lý” của cuộc sống. Đây chính là mục đích của việc dạy và học toán. Thầy đã trang bị kiến thức toán để chúng tôi tiếp tục con đường học vấn đồng thời đã góp phần xây dựng nhân cách của chúng tôi. Sự nghiêm khắc của Thầy đã góp phần rèn luyện chúng tôi khép mình vào khuôn khổ, học hành có kế hoạch. Thầy đã làm đầy đủ chức năng của người Thầy: dạy chữ và dạy người.
Năm 1978 tôi may mắn được về giảng dạy tại trường mình và gặp lại Thầy. Thầy vẫn điềm đạm, nghiêm trang như xưa. Vui biết bao nhiêu khi gặp lại người Thầy kính mến của mình. Vài năm sau Thầy đi dịnh cư ở Mỹ. Năm 1994 Thầy về Việt Nam chơi. Tôi được hân hạnh họp mặt với Thầy tại nhà một người bạn của Thầy và tôi. Thầy bảo tôi: Khi nào Dũng qua Mỹ chơi thì ghé ở nhà Thầy, nhà Thầy rộng lắm. Ôi! Thương quá Thầy ơi! Tôi chưa kịp thực hiện lời mời của Thầy thì Thầy đã mất năm 2022.
Năm học 1968 – 1969 tôi lên lớp đệ ngũ 1. Hơn nửa năm ở nhà rong chơi chúng tôi mới quay lại trường. May mắn đã mĩm cười với lớp chúng tôi. Trãi qua mấy đợt chiến trận khốc liệt nhưng cả lớp vẫn an toàn, vẫn còn đầy đủ mặc dù có mấy bạn nhà cửa tiêu tan phải vào khu tạm cư sau trường, sân Lam sơn, tạm trú đợi xây dựng những khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Minh Mạng… Năm này chúng tôi học toán với Thầy Huỳnh Văn Lắm. Thầy rất nhẹ nhàng, từ tốn nhưng cả lớp đều học hành rất đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Tôi không còn nhớ Thầy phải giải quyết thế nào về việc nửa năm kiến thức đệ lục mà chúng tôi chưa học nhưng cả lớp đã học như bình thường. Môn hình học bắt đầu khó hơn với những bài toán về tam giác đồng dạng, hệ thức lượng trong tam giác… môn đại số với phương trình, hệ phương trình. Môn toán là một trong những môn học ưa thích của lớp chúng tôi nhờ vào cách dạy rõ ràng, nhẹ nhàng của Thầy. Cuối năm học, một số bạn lớp tôi cùng các lớp khác đến học lớp hè của Thầy ở chợ Nancy, gần nhà Thầy. Sau này, khi về trường giảng dạy gặp lại Thầy tôi biết thêm tài giảng dạy của Thầy. Đó là Thầy làm Giáo viên chủ nhiệm (tương tự Giáo sư hướng dẫn thời mình học) cực kỳ tốt. Lớp nào dù tệ đến đâu giao cho Thầy thì chỉ một thời gian ngắn là đâu vào đấy: ngoan ngoản, tuân thủ nội quy học sinh đầy đủ… ai cũng phải khen. Cách giáo dục học sinh của Thầy hay ở chỗ là không cần hò hét, không cần dùng phương pháp mạnh mẽ của bàn tay sắt mà học sinh nghe lời khiến ai cũng nể phục. Một thời gian sau Thầy và gia đình đi định cư ở Mỹ, ở Bắc Cali, gần nhà một bạn cũ cùng lớp nên lâu lâu tôi có dịp hỏi thăm Thầy. Thầy mất tháng 12/2025 thọ 90 tuổi.
Năm học đệ tứ (sau đổi thành lớp 9), năm học 1969 – 1970, đệ nhất lục cá nguyệt lớp tôi học với Thầy Đặng Quốc Khánh. Thầy hơi đậm người, nét mặt nghiêm trang nhưng không khó tính. Tôi nhớ năm này học về đường tròn, tứ giác nội tiếp, phương trình bậc hai… Nội dung học khó hơn những năm trước (có lẻ trước đó có kỳ thi Trung học đệ nhất cấp nên có độ khó nhất định chăng?). Thầy Khánh giảng dạy tốt, chúng tôi học tương đối dễ dàng. Tính Thầy nghiêm nghị, ít khi đùa trong lớp. Năm 1974 khi học khoa Toán Đại học Sư phạm Sài gòn, tôi đi dạy thực tập và giờ đầu tiên lên lớp tôi dạy lớp 10 trường Petrus Ký, lớp của Thầy Khánh đang dạy. Thầy đã chuẩn bị lớp cho tôi rất là chu đáo, giờ dạy tốt cũng là nhờ Thầy lo lắng chu toàn. Sau này, những cuộc họp mặt cựu học sinh Petrus Ký ở Nam Cali đều thấy Thầy tham dự. Rất mừng Thầy khỏe mạnh, minh mẫn.
Qua đệ nhị lục cá nguyệt, lớp tôi đổi Thầy dạy toán. Thầy Trần Văn Thử thay Thầy Khánh. Thầy Thử nguyên là Hiệu trưởng trường năm chúng tôi mới vào trường và cũng là thân phụ của một bạn trong lớp. Đúng như Thầy Nguyễn Thanh Liêm đã nhận xét: “Đây là Ông Hiệu trưởng hiền từ nhất từ xưa đến giờ. Rất là dễ dãi với mọi người.”. Thầy rất hiền trong giảng dạy, có lẻ chỉ có Thầy Lê Tiến Đạt dạy chúng tôi môn Vạn vật lớp 10 mới có thể so sánh với Thầy về sự dễ dãi mà thôi. Trong giờ Thầy, hể Thầy quay lưng lại lớp để ghi bảng thì y như rằng cả lớp tha hồ đùa giỡn, nghịch ngợm. Thầy không hề la gì chúng tôi cả. Tôi nghe Thầy Trần Thành Minh kể lại lúc Thầy Thử làm Hiệu trưởng thì trong lần thi tuyển vào lớp đệ thất của trường, các quan chức ở Bộ Giáo dục có gửi một danh sách học sinh đề nghị trường nhận vào học. Danh sách này khá nhiều. Thầy Thử hỏi ý kiến Thầy Cam Duy Lễ, Trần Thành Minh đang là Giám học và Phụ tá Giám học. Thấy danh sách quá nhiều nên hai Thầy không đồng ý nhận. Tuy nhiên trước áp lực của Bộ và do tính tình hiền lành cả nể, Thầy Thử nhận số học sinh này vào trường. Thầy Lễ, Thầy Minh bất mãn nên nộp đơn xin từ chức Giám học, Phụ tá Giám học. Biết chuyện này các quan chức ở Bộ làm giấy thuyên chuyển hai Thầy đi trường khác. Lúc đó Tổng trưởng Bộ Giáo dục là Thầy Nguyễn Văn Trường mà tôi có nói đến ở trên. Thầy Trường chính là em Ông Nguyễn Văn Lộc, nguyên Thủ tướng miền Nam. Thấy đề nghị thuyên chuyển Thầy Trường không ký thuận và bảo: Tôi biết hai anh này rất đàng hoàng không thuyên chuyển đi đâu hết! Khoảng năm 1973, 1974 thầy Thử bệnh và mất tại nhà bên cạnh trường. Tôi có đến tiễn đưa Thầy an nghỉ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Năm lớp 10, 1970 – 1971, chúng tôi học toán với Thầy Hoàng Ngọc Quỳ.Toán lớp 10 tương đối khó, học hàng điểm điều hòa, vị tự, tịnh tiến, phép quay, dấu nhị thức bậc nhất, tam thức bậc hai… Năm này trong lớp, tôi và nhiều bạn, đang học song song lớp 11 ở trường ngoài, chuẩn bị thi Tú tài 1 nên hầu như không học gì ở lớp 10 cả. Đúng là học lớp 10 bê bối nên tôi không nhớ Thầy Quỳ dạy thế nào chỉ còn ấn tượng Thầy dạy môn vạn vật năm đệ lục mà thôi.
Sang năm học tiếp theo, 1971 – 1972, tôi không học lớp 11 mà lên lớp 12 sau khi đậu Tú tài 1 và được tuyển bổ sung vào trường. Môn Toán do hai Thầy dạy: Thầy Cam Duy Lễ dạy giải tích, hình giải tích, phép biến đổi điểm; Thầy Phan Lưu Biên dạy tân đại số và điểm động học.
Về Thầy Cam Duy Lễ, tôi xin trích lại bài viết tưởng nhớ Thầy:
“Ngày hôm qua, 06/9/2016, tiễn đưa Thầy về Vũng Liêm, Vĩnh Long. Thầy yên nghĩ trong sân vườn tràn ngập bóng cây. Em có biết bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình với thầy trong 45 năm qua.
Năm học 1971-1972 cả lớp 12B1 Petrus Ký hào hứng được học Toán, phần giải tích và Hình học, với Thầy. Vật lộn với những bài toán Phép biến đổi điểm: tịnh tiến, vị tự và đặc biệt là phép nghịch đảo mới có được cảm giác sảng khoái khi giải được những bài khó của Thầy. Có bài Thầy cho mà đề bài đã dài hơn trang A4. Làm được bài nào là thấy đã bài đó. Học với Thầy em biết thêm được cái đẹp của Toán, biết thêm những ý nghĩa sâu sắc của việc học Toán. Sự thích thú mà Thầy đem lại qua những giờ Toán đã góp phần giúp em lựa chọn khoa Toán khi thi vào Đại học Sư phạm.
Năm 1978, sau 2 năm dạy trường Chu Văn An, em may mắn được về dạy tại trường cũ thân yêu; được vào tổ Toán do Thầy làm Tổ trưởng. Phải nói về dạy ở trường mình là một điều tuyệt vời và ở trong tổ Toán lại càng tuyệt vời hơn nữa. Em trở lại là một người học trò học hỏi kinh nghiệm của những Thầy Cô yêu mến của mình. Em đã học được nhiều điều từ cách dạy, cách xử lý vấn đề, cách giáo dục học sinh… của Thầy. Em luôn trân trọng giới thiệu Thầy với các học sinh của em, nói với các em rằng Thầy là Thái Sư phụ. Thầy rất quan tâm đến lời giải hay, đẹp và nhất là có tính sư phạm. Nhớ lúc bộ đề tuyển sinh đại học còn thống trị việc dạy và học. Có những bài toán mà lời giải trong sách như từ trên trời rơi xuống, không biết trả lời học sinh tại sao tìm ra cách giải. Một lần họp tổ, Thầy treo giải một thùng bia cho lời giải đẹp của một bài toán trong bộ đề. Sau đó trong tổ đưa ra 6 lời giải khác nhau. May mắn Thầy không phải “chung độ” 6 thùng bia vì mọi người đều đồng ý 6 lời giải này cũng chưa hay. Cuối cùng lời giải đẹp lại đến từ một học sinh! Trường hợp này giống như nhà sư Hư Trúc giải thế cờ vây. Vì Thầy Cô có kinh nghiệm nên không chọn cách khai triển mà mọi người cho rằng sẽ phức tạp thêm. Ai ngờ chính vì làm phức tạp ra lại rút gọn lại bất ngờ.
Những ngày tháng cùng tổ Toán với Thầy dù không có những lần nhậu “long trời lỡ đất” như thời ở Chợ Đũi trước đây của Thầy với Thầy Tạ Ký, Thầy Tôn Thất Trung Nghĩa… nhưng cũng “lúy túy càn khôn”. Làm sao quên được những đêm đến nhà Thầy xem Euro, World Cup. Giữa khuya mới thi đấu nhưng từ chiều đã tụ tập đông đủ. Lai rai, bàn chuyện trên trời dưới đất và cuối cùng là ngủ lăn quay chẳng biết gì đến trận đấu. Sau đó nhóm “thân hữu” mở rộng được thành lập mỗi tháng gặp nhau một lần. Nhớ biết bao nhiêu không khí thân thương, vui vẻ, gần gũi của những lần họp mặt. Có lần Thầy mang đến một chai rượu mà chưa ai uống qua. Anh em đã thỏa thuận với nhau trước chọc Thầy nên khi uống không ai khen lấy một câu. Thầy thấy kỳ nên uống xong mới hỏi: Sao tụi bây? Uống được không? Tụi này mỗi đứa chê một câu, đại khái chai rượu gì mà bằng sành, chẳng nhìn thấy rượu đâu, uống cũng thường thôi. Thầy hơi quê bảo: Nhưng theo phép lịch sự của tao đem tới tụi bây phải khen chứ. Lúc đó mọi người mới cười ầm lên bảo ngon lắm sư phụ ơi! Đó là chai Chivas 21.
Nhớ Noel năm nào cách nay chắc khoảng 25 năm anh em cũng tụ họp vui với nhau. Lúc 2 giờ sáng một Thầy chạy đến nhà mình báo tin Thầy bị té xe đang ở bệnh viện (lúc đó chưa có điện thoại di động). Hết hồn vội vã cùng chạy vào bệnh viện thì may mắn Thấy chỉ bị mẻ xương ở gò má mà thôi. Các bạn lại phân công mình một việc khó là chạy ra nhà báo tin cho Cô. Thôi thì Thầy mạnh khỏe là mừng rồi nên cũng ráng gồng mình làm nhiệm vụ. Sau này khi con Thầy làm bác sĩ bệnh viện NĐ1, Thầy thường nói với bạn bè có gì cần giúp thì cứ báo và những trường hợp đó Thầy đều tận tình giúp đỡ.
Còn biết bao nhiêu chuyện buồn vui nữa Thầy ơi!
11g30 đêm 02/9/2016, thầy Trần Thành Minh gọi điện thoại báo tin Thầy bị té xuất huyết não chắc không qua khỏi. Chưa kịp bàng hoàng, sáng sớm chạy đi thăm Thầy thì Cô gọi báo Thầy đã mất.
Làng giáo Toán Sài gòn mất đi một cây đại thụ. Tụi em mất đi một con chim đầu đàn. Nỗi buồn này biết bao giờ nguôi! Bây giờ những lần ngồi vui vẻ, sảng khoái với Thầy chỉ còn trong mơ, trong hồi tưởng.
Thôi chỉ còn biết an ủi rằng Thầy ra đi nhẹ nhàng. Trong lòng Thầy lúc nào cũng vui vì con cháu thành đạt, hiếu thảo.
Thầy ơi, những hình ảnh, những kỷ niệm của Thầy sẽ luôn giữ mãi trong lòng người thân, trong lòng bạn bè và trong lòng những đứa học trò của thầy.
Rồi đây tụi em, dân cựu học sinh Petrus Ký, mỗi khi ngồi với nhau sẽ nhớ tới Thầy biết bao nhiêu.”
Thầy Phan Lưu Biên giảng dạy chúng tôi phần tân đại số: luật nội hợp, nhóm, vành, trường, số tạp, điểm động học… Thầy dạy dễ hiểu, rõ ràng. Đề thi tú tài 2 năm đó có một bài thuộc phần này và đa số chúng tôi làm dễ dàng. Khi dạy, Thầy có sử dụng sách do Thầy Trần Thành Minh, Lê Văn Đặng và Thầy cùng biên soạn, nhà xuất bản Trí Đăng phát hành. Năm đó Thầy lái chiếc xe LaDalat mới tinh đi dạy. Tôi nhớ có hỏi Thầy và Thầy bảo: Tiền bản quyền viết mấy quyển sách toán đó. Theo như Thầy kể, lúc nhỏ ở Quảng Nam đi học trễ nên phải làm giấy tờ nhỏ tuổi thành sinh năm 1941 thay vì 1938. Khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, Thầy đậu á khoa nên chọn nhiệm sở là trường Petrus Ký. Sang năm 1972 – 1973, Thầy về Nha Khảo thí phụ trách ra đề thi tú tài. Tới năm 1975, Nha Khảo thí bị giải tán Thầy chuyển về dạy trường Bổ Túc cán bộ ở Thủ Đức. Khi trường này giải thể, Thầy lại dạy trường mình cho đến khi về hưu. Hiện Thầy đã 86 tuổi nhưng rất khỏe. Hằng tháng vẫn từ nhà phía cầu Bình Lợi xuống họp mặt cùng bạn bè.
Trên đây là tám Thầy đã dạy môn toán tôi ở trường Petrus Ký. Tuy nhiên là thiếu sót to lớn nếu tôi không viết về hai Thầy Cô gần gũi cũng như nổi tiếng ở trường ta.
Người đầu tiên tôi muốn giới thiệu là Thầy Trần Thành Minh. Thầy không dạy tôi ở trường nhưng tôi học ở Thầy rất nhiều điều trong suốt thời gian làm việc chung với nhau. Về trường vài năm, tôi làm Thư ký Hội đồng (tương tự Phụ tá Giám học trước đây) còn Thầy làm Phó Hiệu trưởng. Cùng làm việc với Thầy tôi đã học được phuơng pháp làm việc, phuơng pháp giảng dạy… Nghề xếp thời khóa biểu khi chưa có sự hỗ trợ của máy tính là tôi học từ Thầy Minh và Thầy Huỳnh Thanh Nghiêm (dạy môn Pháp văn). Đặc biệt, tôi được tham gia cùng Thầy và Thầy Biên viết các quyển sách bài tập toán, thay vị trí Thầy Lê Văn Đặng trước đây. Dĩ nhiên viết mấy cuốn sách nhưng tiền bản quyền chẳng đáng là bao không như Thầy Phan Lưu Biên trước kia viết sách mua được xe hơi. Thầy cũng là cựu học sinh Petrus Ký. Hiện nay Thầy Minh 87 tuổi, vẫn khỏe, hằng tháng vẫn đến họp mặt cùng bạn bè đồng nghiệp hưu trí.
Người tiếp theo tôi xin giới thiệu Cô Nguyễn Thị Khả, Cô giáo dạy toán duy nhất của trường Petrus Ký khi đó. Dù học hay không học Cô nhưng hể là học sinh Petrus Ký thời Cô dạy là phải biết Cô qua câu: Nhất Khả, nhì Hương… Tôi cũng không hân hạnh học với Cô. Khi học lớp 9, một lần đi ngang qua lớp 9/5 hay 9/6 tôi nhìn thấy một hình ảnh mà vẫn còn ấn tượng đến bây giờ. Đó là hình ảnh cả lớp quỳ gối trên băng ghế mà vẫn nghiêm chỉnh nghe giảng, chép bài. Một điều mà khi xem danh sách học sinh trường năm học 1950 – 1951 tôi mới biết Cô cũng là cựu học sinh trường. Vào thời Cô, muốn thi tú tài, nam lẫn nữ, thì phải học trường Petrus Ký vì khi đó chỉ có trường mình mới có lớp bậc tú tài. Sau này khi cùng dạy với Cô mới thấy Cô nghiêm khắc nhưng hợp lý và công bằng. Học trò sợ Cô nhưng luôn kính nể, tôn trọng Cô. Cô xây dựng nền nếp học tập trong lớp rất khoa học, đâu vô đó. Lần cuối gặp Cô tại nhà khi thăm Cô lúc Cô bệnh. Cô mất năm 1979 khi Cô mới 49 tuổi.
Trên đây tôi ghi lại những ấn tượng, những kỷ niệm của các Thầy Cô dạy Toán khi tôi học tại trường. Những tình cảm với các Thầy Cô vẫn sâu đậm trong lòng tôi. Tôi luôn mang ơn các Thầy Cô đã bỏ công dạy dỗ chúng tôi nên người. Gần 60 năm, có thể một số chi tiết không được chính xác, lẫn lộn theo thời gian xin ghi lại đây để tưởng nhớ các Thầy Cô, để nhớ lại một thời đẹp đẽ của tuổi học trò đã qua.
Ẩn bớt

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

Pétrus Ký - ngôi trường lớn của nhiều thầy trò Sài Gòn

 HỒ TƯỜNG

TTO - Năm 1925, kiến trúc sư người Pháp là Hebrard de Villeneuve được chỉ định lập bản đồ thiết kế Trường Collège de Cochinchine tại Chợ Quán, Sài Gòn.

Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký năm 1930, ba năm sau khi thành lập - Ảnh: NADAL

Ngôi trường ban đầu là một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat (hiện nay là Lê Quý Đôn) dành cho học sinh người Việt Nam, do ban giám đốc Trường Chasseloup Laubat quản lý.

Khi trường mới xây dựng xong, ngày 11-8-1928, Trường cao đẳng tiểu học Pháp mang tên là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký được thành lập cho năm học đầu tiên 1928-1929, với hơn 200 học sinh.

Trường Cao đẳng tiểu học Pháp mang tên là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký lúc đang xây dựng - Ảnh tư liệu
Trường Petrus Ký thuở sơ khai khá trống trải và cây chưa kịp trồng - Ảnh tư liệu

Tháng 12-1929, sau khi khánh thành tượng đồng của nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký ở công viên trước dinh Norodom (nay là dinh Thống Nhất, TP.HCM), trường chính thức mang tên là Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký.

Tuy nhiên, nhiều người vẫn gọi tắt là Pétrus Ký và tên này được sử dụng trong gần 50 năm.

Bí ẩn vết thủng trên má trái tượng Petrus Ký

Ngày 6-12-1937, nhân lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của nhà văn hóa, nhà bác học Pétrus Trương Vĩnh Ký, trường đã đặt tượng bán thân bằng đồng của ông Pétrus Trương Vĩnh Ký tại giữa sân trường.

Đây là tác phẩm của nhà điêu khắc Sylve Raffegeard (Pháp) thực hiện từ năm 1889, khi nhà bác học Trương Vĩnh Ký còn tại thế.

Hiện tượng này được trưng bày tại phòng truyền thống của Trường THPT Lê Hồng Phong. 

Tượng nhà bác học Trương Vĩnh Ký trong phòng truyền thống Trường THPT Lê Hồng Phong. Ảnh chụp sáng 11-1  - Ảnh: HỒ TƯỜNG

Tên nhà điêu khắc và năm thực hiện vẫn còn ghi rõ ở vai trái của tượng.

Sáng 11-1, thăm nơi đây, chúng tôi thấy rõ bên má trái của tượng, gần hàm dưới có một vết tròn lõm vào. Cô hiệu phó Trương Thị Lệ Hà của Trường THPT Lê Hồng Phong cho biết đó là vết đạn có thể đã có từ trước 1975.

Có ý kiến cho đó là vết đạn trong cuộc chiến giữa lực lượng Bình Xuyên và chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1955 khi lực lương Bình xuyên đóng ở Trường Pétrus Ký…

Ngôi trường hầu như nguyên vẹn với thời gian

Những năm trước 1945, Chợ Lớn và Sài Gòn còn là hai thành phố riêng biệt, khoảng giữa là vùng ngoại ô ít người. Khu Nancy, góc Nguyễn Văn Cừ - Trần Hưng Đạo ngày nay, khi ấy còn là đầm lau sậy.

Khu Nguyễn Trãi bán hoa còn là đồn lính Cây Mai. Một trong những bức ảnh xưa nhất chụp ngôi trường này là không ảnh chụp năm 1929, cho thấy ngôi trường khang trang nằm nổi bật trên một vùng đồng trống mênh mông rộng lớn, nằm ở giữa hai thành phố Sài Gòn và Chợ Lớn.

Trường Trương Vĩnh Ký thưở ban đầu - Ảnh tư liệu

Bốn con đường bao quanh khi ấy, nay là đường Nguyễn Văn Cừ, An Dương Vương, Trần Bình Trọng, Trần Phú. Phía sau trường và bên hông là sân vận động Lam Sơn, khu nội trú cho học sinh và khu nhà tập thể cho các giáo viên, có nhiều dãy nhà.

Hai góc của công trình là hai tháp nước.

Thập niên 1950, một số cơ sở và đất đai của Trường Pétrus Ký bị cắt xén, trưng dụng để dùng cho những cơ quan giáo dục khác như Trường Quốc gia Sư phạm, Trường trung tiểu học Trung Thu, Trung tâm Học liệu của Bộ Giáo dục...

Ba dãy lầu lớn của Trường Pétrus Ký được dùng cho ĐH Khoa học và ĐH Sư phạm. Nhà tổng giám thị Pétrus Ký được dùng làm Trung tâm Thính thị Anh ngữ, một số các nhà chức vụ khác của trường cũng được dùng cho một số viên chức Bộ Giáo dục SG.

Tuy bị cắt xén nhiều nhưng Trường Pétrus Ký vẫn còn là một trường trung học lớn nhất dành riêng cho nam sinh ở miền Nam. 

Năm 2015, Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong được công nhận là di sản kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố. 

Trường Pétrus Ký là một tổng hòa công kiến trúc đẹp, gói gọn trong khuôn viên xanh, rộng rãi lên tới 8ha. Với những hàng cây cổ thụ, tháp đồng hồ hay những dãy hành lang lát gạch ca rô ẩn nấp phía dưới những mái vòm cong độc đáo được xem là những điểm nhấn đặc biệt của ngôi trường.

Có thể nói đây là tiêu biểu cho phong cách kiến trúc phương Tây tổng hòa với nền giao thoa văn hóa bản địa Á Đông, tạo ra lối kiến trúc Đông Dương, đặc trưng cho một thời kỳ lịch sử Việt Nam.

Cụ thể, phía dưới là tường dày 1-1,2m, các vòm, các trụ, trang trí trên trụ, trên vòm... là theo kiến trúc Pháp. Hành lang được bao quanh bằng lan can có các “con tiện” theo kiểu Pháp. Thế nhưng kiến trúc phía trên là mái ngói lợp dốc theo kiểu Á Đông để thoát nước mưa tốt.

Sắt, gạch, ximăng… để xây dựng ngôi trường được đưa từ Pháp qua.

Tên trường xưa ghi rõ Pétrus Trương Vĩnh Ký - Ảnh tư liệu

Mặt bằng Trường Pétrus Trương Vĩnh Ký gồm ba dãy nhà dài. Khu A của trường gồm: cổng ngoài (giáp đường Nguyễn Văn Cừ ngày nay), cổng chính vào sân trường, trên có tháp chuông đồng hồ, ba dãy phòng học hình chữ U một trệt, một lầu với hành lang rộng, cửa vòm, cột vuông, tường gạch, mái ngói đỏ, đầu hồi trang trí hoa văn... nay vẫn còn được giữ gìn gần như nguyên vẹn.

Bốn dãy này bao quanh thành kiểu hình vuông, bao sân lớn ở chính giữa có nhiều cây xanh tạo bóng mát cho sân trường. 

Cổng Trường Petrus Ký (Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong) hiện nay. Ảnh chụp sáng 11-1  - Ảnh: Hồ Tường
Dãy nhà mặt tiền của Trường THPT Lê Hồng Phong, tức Trường Pétrus Ký xưa. Ảnh chụp sáng 11-1 - Ảnh: Hồ Tường

Trong những năm qua, để đáp ứng nhu cầu học tập, trường đã xây dựng thêm khu B, khu C và khu luyện tập thể thao. Các công trình mới xây dựng vẫn đảm bảo sự hài hòa với các công trình đã có.

Ngôi trường lớn của nhiều thế hệ thầy trò Sài Gòn

Muốn vào học Trường Pétrus Ký, học sinh ưu tú, xuất sắc của Sài Gòn và các tỉnh phía Nam phải qua kỳ thi tuyển rất gay go, từ khi mới thành lập cũng vậy mà sau này cũng vậy. Vì thuộc thành phần chọn lọc như vậy nên học sinh Pétrus Ký đậu rất nhiều và rất cao trong các kỳ thi.

Trở thành học sinh của Pétrus Ký đã là ước mơ của biết bao thế hệ học sinh ở Sài Gòn và miền Nam Việt Nam.

Về phương diện kỷ luật và trật tự thì có lẽ hiếm trường nào có kỷ luật và trật tự chặt chẽ, tốt đẹp bằng Trường Pétrus Ký. Sau khi vào cổng, học sinh đứng xếp hàng dưới những tàng cây sao cao ngất bên hông những dãy lớp học đồ sộ uy nghi, khi các lớp học sinh chỉnh tề theo hàng ngũ lần lượt đi vào sân trong và dừng lại ở trước cửa mỗi lớp một cách rất có trật tự và kỷ luật trong không khí trang trọng.

Phần đông giáo viên Pétrus Ký là thầy cô được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một số giáo viên Pétrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục Sài Gòn sau khi dạy ở trường.

Từ những ngày đầu được thành lập, Pétrus Ký đã được xây dựng tiếp nối với nhiều thế hệ học sinh, thanh niên yêu nước, là cái nôi ươm mầm, đào tạo ra bao thế hệ tài năng, những nhà cách mạng đã hết mình phụng sự Tổ quốc...

Trường là nơi khởi nguồn cho các phong trào yêu nước chống Pháp, chống Mỹ. Tiêu biểu như câu lạc bộ học sinh Trường Pétrus Ký, đây được xem là ngọn cờ đầu đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam. 

Dãy phòng học và góc sân Trường THPT Lê Hồng Phong hiện nay hầu như nguyên vẹn dáng dấp ban đầu. Ảnh chụp sáng 11-1 -  Ảnh: HỒ TƯỜNG
Hành lang trước phòng học của Trường Lê Hồng Phong, tức Trường Pétrus Ký xưa vẫn giữ nguyên hàng gạch bông bóng loáng qua thời gian. Ảnh chụp sáng 11-1  - Ảnh: HỒ TƯỜNG

Sau khi tái chiếm Sài Gòn ngày 23-9-1945, người Pháp cho mở cửa lại các trường học, học sinh Pétrus Ký lúc bấy giờ dời về học tại Trường tiểu học Tân Định rồi tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse, đến năm 1947 mới dời về học tại trường cũ và cũng từ năm học này hiệu trưởng của Trường Pétrus Ký là người Việt Nam.

Ngày 9-1-1950, các trường đồng loạt hẹn nhau đi biểu tình và cử phái đoàn đại điện trực tiếp yêu cầu giám đốc Nha học chánh và Thủ hiến giải quyết. Pháp đưa lính đến giải tán và đàn áp cuộc biểu tình, nổ súng vào đám đông học sinh làm bị thương nhiều người và giết chết anh Trần Văn Ơn - học sinh lớp Seconde của Trường Pétrus Ký.

Ngày 12-1-1950, gần cả triệu người ở Sài Gòn và nhiều tỉnh về dự đám tang người học trò Trần Văn Ơn.

Mãi đến mùa hè năm 1960, chương trình học bằng tiếng Pháp chấm dứt, Lycée Pétrus Ký trở thành Trường trung học đệ nhị cấp Pétrus Trương Vĩnh Ký và chương trình dạy tiếng Việt trong nhà trường mới bắt đầu, đúng như nguyện vọng của đông đảo thế hệ học sinh của nhà trường từng đấu tranh từ năm 1949.

Trường Pétrus Ký thành lập năm 1927 và tiếp nối truyền thống là Trường Lê Hồng Phong là nơi đã đào tạo ra nhiều thế hệ học sinh và trong số đó đã có nhiều nhân vật nổi bật trong nhiều lĩnh vực: Trần Văn Khê, Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Trần Văn Ơn, Phạm Thiều, Huỳnh Tấn Phát, Huỳnh Văn Nghệ, Trần Đại Nghĩa, Tô Văn Tuấn (Bình Nguyên Lộc), Trần Bạch Đằng, Hồ Hảo Hớn, Nguyễn Thái Bình, Lê Quang Vịnh, Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Nguyễn Văn Tàu, Nguyễn Chơn Trung…

Từ năm học 1976 - 1977 trường mang tên Tổng bí thư Lê Hồng Phong và được Thủ tướng Chính phủ giao trọng trách là trung tâm chất lượng cao các tỉnh, thành phía Nam. 

Câu đối trước cổng trường nhiều người vẫn nhớ

Vào năm 1950, thầy Ưng Thiều, giáo sư môn Hán văn của trường viết hai câu đối, được ông hiệu trưởng Phạm Văn Còn cho khắc trước cổng trường để nêu rõ quản điểm giáo dục cho học sinh của trường về đạo đức và trí dục như sau: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt (trái); Tây Âu khoa học yếu minh tâm (phải)” (tạm dịch nghĩa: (Tam) cương (ngũ) thường Khổng Mạnh nên khắc cốt - Khoa học Tây Âu ghi tạc trong lòng).

Cổng trường Petrus Ký thập niên 1950 với câu đối nêu quan điểm giáo dục của trường lúc ấy: “Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt (phải); Tây Âu khoa học yếu minh tâm (trái)” - Ảnh tư liệu

Ngôi trường di sản

 

Ngôi trường di sản

L.T.S: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong vừa nhận bằng chứng nhận Di tích kiến trúc - nghệ thuật của TPHCM. Trước năm 1975, trường có tên là Petrus Trương Vĩnh Ký, đã từng đào tạo nhiều nhân tài cho đất Việt. Nhân dịp này, chúng tôi xin lược trích đoạn hồi ức của một thầy giám thị già Trường Petrus Ký - từng là học sinh cũ của trường trong truyện dài Mùa hè năm Petrus (tái bản lần thứ 5) của nhà văn Lê Văn Nghĩa.

Học sinh lớp 10 trường THPT chuyên Lê Hồng Phong TPHCM tươi vui trong ngày khai giảng năm học 2015-2016. Ảnh: Mai Hải

Quá khứ của thầy Tư lại tràn về hình ảnh một cậu bé làng quê tỉnh Mỹ Tho lên Sài Gòn trọ học của những năm 40. Mái tóc húi cua vẫn còn vết tích “bảo tàng” của cái đầu ba vá. Lúc ấy, trường chưa xây hàng rào trước cổng đường Cộng Hòa (nay là đường Nguyễn Văn Cừ) với một “lãnh thổ” rộng lớn bao gồm tứ giác Cộng Hòa, Thành Thái, Trần Bình Trọng, Nguyễn Hoàng(*). Lúc vào trường, thầy có tìm hiểu thì được biết sau sự ra đời của Trường Collège Chasseloup-Laubat (năm 1874) và Trường Collège de Jeunes Filles Indigèges (1915), chính quyền thuộc địa Nam kỳ mở thêm trường bậc trung học thứ 3 tại Sài Gòn. Năm 1925, kiến trúc sư Ernest Hebrard được giao nhiệm vụ vẽ đồ họa xây cất cho ngôi trường mới tại Chợ Quán. Ngày 28-11-1927, Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne ra nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Năm 1928, khi các khu trường mới xây dựng xong, nhân dịp khánh thành tượng đồng của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse chính thức đặt tên trường là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký. Do đó, trường còn có tên gọi là Petrus Ký.

Đây là công trình được thiết kế theo phong cách kiến trúc Đông Dương. Thầy Tư đã có những lúc đứng giữa trường một mình ngắm nhìn toàn bộ khuôn viên. Mặt bằng trường gồm ba dãy phòng học và một dãy hành lang trước bao quanh sân lớn ở giữa. Các dãy phòng học bố trí lầu, có hành lang rộng trước phòng học. Thay vì sử dụng lan can con triện theo kiểu kiến trúc Phục hưng Pháp thì hành lang được trang trí kiểu khung viền theo kiểu kiến trúc Romanesque.

Khoảng những năm giữa của thập niên 1950, phần đất của trường bị cắt xén để thành lập những trường khác như Đại học Sư phạm, nằm ở đường Thành Thái. Cạnh đó là Trung tâm Anh ngữ, trước kia là nhà dành riêng cho Tổng giám thị Trường Petrus Ký, hay ba dãy lầu lớn của trường được dành cho Đại học Khoa học và Đại học Sư phạm. Sau này phần đất kế bên được tiếp tục cắt để xây Trường Trung học Trung Thu ở đường Thành Thái (nay là đường An Dương Vương) và Trung tâm học liệu của Bộ Giáo dục phía đường Trần Bình Trọng, cạnh sân vận động Lam sơn. Tuy trường càng ngày càng thu hẹp về diện tích nhưng không vì thế mà uy tín của nó kém bớt đi.

Từ năm 1948, học sinh Trường Petrus Ký mở đầu phong trào đấu tranh đi “Dạy và học bằng tiếng Việt”, bãi bỏ chế độ thi hà khắc, chống khủng bố kiềm kẹp học sinh. Trong ngày tựu trường 10-9-1949, học sinh các trường kết hợp với trí thức và cha mẹ học sinh đưa yêu sách yêu cầu Bộ Giáo dục giải quyết ngay và tiến hành bãi khóa kéo dài một tháng. Chính quyền thực dân Pháp đàn áp và bắt bớ. Giám đốc Nha học chính Nam phần ra lệnh đóng cửa hai trường Petrus Ký và Gia Long, sau đó ra lệnh cho học sinh làm đơn xin đi học lại. Học sinh vẫn tiếp tục đấu tranh với ba yêu sách: Lập tức thả ngay những học sinh bị bắt; bảo đảm an ninh cho học sinh, không được khủng bố, bắt bớ vô cớ; mở các trường vô điều kiện, không phải làm đơn xin học lại. Cuộc đấu tranh lên đỉnh điểm khi học sinh của trường là  trò Trần Văn Ơn bị bắn chết lúc biểu tình tại dinh thủ hiến Nam phần.

Thầy nhớ lại cảnh mình đi theo đoàn biểu tình vào ngày 9-1-1950. Từ trường, thầy đi theo các bạn mình cầm biểu ngữ có chữ “Phải thả ngay các học sinh Petrus Ký bị bắt” đến dinh thủ hiến Trần Văn Hữu tại vườn hoa đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng). Càng lúc học sinh các trường tham gia càng đông. Thủ hiến Trần Văn Hữu không chịu tiếp xúc với đại diện học sinh mà trái lại, còn đưa bọn “mã tà” đến đàn áp. Anh Trần Văn Ơn, khi leo qua rào dinh thủ hiến đã bị bắn chết.

Từ đó đến nay, khi nhắc đến Trường Petrus Ký không ai lại không biết đến đó là ngôi trường mà trò Trần Văn Ơn đã từng theo học. Giáo sư Hán Văn - Ưng Thiều đã  làm bài thơ Đường để ngợi ca trường: Trường tôi ở tại lối Nancy/ Trung học đường kia có bản ghi/ Mượn hiệu người xưa Trương Vĩnh Ký/ Lẫy lừng danh tiếng đã bao thì.

…Thầy nhìn những “đứa trẻ” ngồi đây, sau vài năm nữa cũng sẽ ra trường, học đại học và có em sẽ trở thành những người có danh giá trong xã hội, xây dựng đất nước giữ vững và duy trì truyền thống của ngôi trường xinh đẹp, cổ kính này n

__________
(*) Nay là đường Nguyễn Văn Cừ, An Dương Vương, Trần Bình Trọng và Trần Phú.

LÊ VĂN NGHĨA