Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

Tiếng Việt, những công lao bị quên lãng

 


Trong quá trình xây dựng ngành việt ngữ học, một quá trình đã có một lịch sử khá dài (hơn mười hai thập niên kỷ – gần đến một thế kỷ rưỡi, ta không thấy có một trình tự phát triển và tiến bộ liên tục, trong đó người đi sau học tập những thành tựu của người đi trước, cố hiểu rõ cội nguồn của những nhận định và những kết luận của họ trong thực tế nói năng của dân tộc, kiểm tra lại xem những nhận định và kết luận này có phù hợp với cách nói năng của nguời bản ngữ hay không, và nếu không thì phê phán, chỉnh lý và bổ sung cho những nhận định ấy được chính xác và khái quát hơn, và mặt khác cố gắng tiếp thu những phát kiến thành công của các trào lưu tiến bộ trong trong lý thuyết ngôn ngữ học thế giới để soi sáng những vấn đề có liên quan đến tiếng mẹ đẻ của mình.

Con đường diễn biến của ngành chúng ta rất quanh co khúc khuỷu, và gồm có nhiều bước lùi rõ rệt, một phần cũng vì người đi sau không mấy người được đào tạo chính quy về nghiệp vụ để đánh giá đúng những thành tựu mà người đi trước đã đạt được cũng như những sai lầm mà họ có thể mắc phải, nhiều khi do những nguyên nhân khách quan của lịch sử hay những nguyên nhân chủ quan của vốn tri thức riêng của từng người.

Nhưng nguyên nhân chính của tình hình này không phải ở đấy. Nó nằm trong một định kiến càng ngày càng ăn sâu vào lòng một số người không nhỏ, cho rằng từ khi được học tiếng Pháp, người Việt đã bắt đầu nói một thứ tiếng y hệt như người Âu châu, cho nên muốn nghiên cứu tiếng Việt, nhà ngôn ngữ học Việt Nam chỉ cần chép lại sách ngữ pháp tiếng Pháp là đủ. Huống chi bây giờ lại đang có phong trào “hội nhập” và “toàn cầu hoá”, khiến cho các ngôn ngữ, cũng như các nền văn hoá, dần dần nhích lại gấn nhau, tiến tới chỗ hợp nhất.

Định kiến này trở thành một chân lý tuyệt đối không còn có cách gì bác bỏ được kể từ khi GS Phan Ngọc (1983) (1) khẳng định:

Đoản ngữ danh từ là một sản phẩm mới của ngữ pháp Việt Nam, ra đời do sự tiếp xúc với đoản ngữ danh từ của châu Âu (…). Lí do chính của sự ra đời đoản ngữ danh từ là sự đối lập giữa danh từ Việt Nam với danh từ châu Âu (…). Những khái niệm về số có mặt thường xuyên trong danh từ châu Âu cũng thúc đẩy người Việt Nam phải sử dụng những công cụ ngữ pháp tương đối thường xuyên để chỉ số. Do đó, ngày xưa chỉ có một cách nói người, ngày nay nói tám cách: người, con người, một người, một con người, những người, những con người, các con người, các người” [10, 269].

Và nhất là sau khi những ý kiến này được một cuốn sách do Bộ Giáo dục ấn hành (2) xác nhận và hợp pháp hoá.

Từ đó trở đi, một số đông những người nghiên cứu tiếng Việt hoàn toàn yên tâm trong việc sao chép lại các sách ngữ pháp tiếng Pháp. tiếng Anh hay tiếng Nga, dịch thật sát các thí dụ ra tiếng Việt, và đem những bản dịch ấy ra công bố thành hàng trăm bài vở, công trình dưới những tiêu đề khác nhau nhưng đều mang nhãn hiệu “ngữ pháp tiếng Việt”, chứ không còn dành ra một phút nào để lắng nghe xem thử người Việt ngày nay, trong đó có bản thân họ, ăn nói ra làm sao, và cũng không còn chịu khó đọc lại những cuốn sách cũ xem thử những tác giả đi trước đã viết những gì về tiếng Việt, những cuốn sách ấy có còn phản ánh dúng ngữ trạng hiện nay của tiếng Việt nữa hay không, hay là chỉ phản ánh những ngữ trạng đã lùi vào dĩ vãng, như một số không nhỏ tác giả ngày nay quan niệm. Những câu mà dân Việt Nam – trong đó có cả các nhà ngôn ngữ học – dùng mỗi ngày hàng ngàn lần nhưng không giống những kiểu câu của tiếng Pháp (như cách nói “Tôi tên là Nam” chẳng hạn) đều bị coi là sai ngữ pháp hay ít nhất là “vô văn hoá” hay “không chuẩn” (vì người có văn hoá phải nói “Tên của tôi là Nam” như người Pháp “chính cống” mới được).

Quả tình cũng phải công nhận rằng số thành tựu thật đáng tin cậy một cách chắc chắn mười phần mà các tác giả của thời trước đã đạt được cũng không lấy gì làm nhiều, nhưng đó là những thành tựu có thật, rất quan trọng, rất chân xác và cơ bản, và cho đến nay giá trị chân lý của nó, vẫn còn y nguyên, vì đó là kết quả trực tiếp của những công lao nghiên cứu tiếng Việt thật, chứ không phải những bản sao chép từ sách nước ngoài, như ta có thể thấy rõ qua những điều sẽ trình bày sau đây về Trương Vĩnh Ký (1883), L. Cadìère (1900) và Phạm Duy Khiêm (1940). Trái lại, những kiểu sao phỏng ngữ pháp tiếng Pháp hay một thứ tiếng Âu châu nào khác đều dẫn tới những sai lầm thô thiển khiến cho tiếng Việt bị bóp méo đến mức không còn nhận ra được nữa.

Trương Vĩnh Ký là người sống cùng thời với Ferdinand de Saussure, thời mà ngữ học đang đi theo xu hướng của các nhà Tân ngữ pháp vốn quan niệm rằng lịch sử của các ngôn ngữ là đối tượng duy nhất của ngữ học.

Trong những năm mà Saussure, sau khi soạn thảo và bảo vệ luận án bản Luận văn nổi tiếng về các “Nguyên âm thanh hầu của tiếng Ấn – Âu cổ”, đã ngừng công bố các thủ cảo của ông để tập trung vào công việc giảng dạy những nguyên lý mà sau này sẽ làm thành cái cẩm nang của ngữ học hiện đại ở châu Âu (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương), thì Trương Vĩnh Ký lần lượt soạn thảo những công trình khá đa dạng về ngữ học, và nhất là về tiếng Việt, như:

1. Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales.
2. Analyse comparée des principales langues du monde.
3. Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l’Indochine.
4. Combinaisons des systèmes conventionnels d’écritures idéographiques, hiéroglyphiques, phonétiques et alphabétiques.
5. Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques.
6. Cours pratique de langue annamite.
7. Grammaire de la langue annamite.
8. Abrégé de grammaire annamite.

Trong đó chỉ có mấy công trình kể sau cùng là đã được xuất bản thành sách. Nhìn vào năm xuất bản mấy cuốn này, người ta không thể không lấy làm lạ sao vào những năm 70 – 80 của thế kỷ XIX mà một tác giả không qua quá trình đào tạo chuyên ngành lại có thể cho ta một bức tranh đồng đại cặn kẽ đến như vậy về ngữ pháp của một thứ tiếng hầu như chưa từng được nghiên cứu.

Sau này, kể từ khoảng giữa thế kỷ XX, các nhà ngữ học hiện đại, nếu có nhắc đến ông, thường nói về cuốn Ngữ pháp tiếng Việt(Grammaire de la langue annamite) của ông xuất bản năm 1883 như về một sự kiện xa xưa trong lịch sử nghiên cứu tiếng Việt, đại diện cho một giai đoạn đã qua; như về một cái gì đã lỗi thời, trong đó người ta gán mô hình ngữ pháp châu Âu, đặc biệt là ngữ pháp tiếng La Tinh, cho tiếng Việt, vì chưa có được những thủ pháp “khách quan” như thủ pháp “phân bố” (distributional analysis) hay thủ pháp “cải biến“ (transformational rules) chẳng hạn như ngữ pháp học hiện đại. Trong khi đọc lại Trương Vĩnh Ký, các tác giả thời nay rất ít khi đọc kỹ để xem thử ông Trương đi theo khuôn mẫu của tiếng La Tinh đến mức nào (chẳng hạn, có đến mức như ông Phan Ngọc nói về việc sao phỏng tiếng Pháp sau 1945, hay có đến mức như những lời dè bỉu của ông Nguyễn Kim Thản khi tìm cách thay thế những nhận định của ông Trương bằng những phát minh tân kỳ về “phạm trù may rủi” chẳng hạn của mình hay không.)

Quả tình, cũng như tất cả các nhà ngữ học đã từng viết về tiếng Việt từ trước tới nay, Trương Vĩnh Ký không thoát khỏi những định kiến “dĩ Âu vi trung”. Nhưng cái trí tuệ sắc sảo và cách làm việc duy lý, thận trọng và thông minh của ông đã giúp ông tránh được những sự lầm lẫn thô bạo mà ở thế kỷ sau rất nhiều đồng nghiệp hậu sinh của ông đã mắc phải. Khuôn khổ của bài này chỉ cho phép tôi minh họa điều vừa nói bằng vài ba dẫn chứng tiêu biểu, trong khi chờ đợi những công trình chi tiết hơn về tư tưởng ngữ học của những bậc tiền bối của chúng ta trong hai thế kỷ trước.

1. Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên thấy rõ ý nghĩa “cực cấp” (superlatif) của những từ làm trạng ngữ cho tính từ như: (trắng) bóc, (đen) thui, (đỏ) lòm… và của những kết cấu so sánh mở đầu bằng như (kiểu đỏ như son), và đã lập danh sách tất cả những thành ngữ cấu tạo theo hai mẫu đã nói trên mà ông biết được, gồm 560 đơn vị. Ngày nay đã có một vái tác giả thấy được nghĩa “cực cấp” (hay“tột độ”) của loại thứ nhất, nhưng hình như chưa có ai nói đến nghĩa này của loại thứ hai.

2. Trương Vĩnh Ký cũng là người đầu tiên thấy rõ ý nghĩa chỉ đích (đánh dấu cái danh ngữ chỉ vật làm mục tiêu và/hay điểm kết thúc của sự di chuyển) trong chức năng cấu tạo giới ngữ của những vị từ cập vật chỉ sự di chuyển như đến, tới, ra, vào, về, khi các vị từ này, sau khi mất trọng âm được dùng như những giới từ chỉ đích sau những vị từ chỉ sự vận động như bay, chạy, nhảy, bước hay sau những vị từ chỉ việc gây khiến sự vận động như kéo, đẩy, dắt – một ý nghĩa “cách” được ngữ pháp tiếng Việt thể hiện rất rõ nhưng lại bị rất nhiều tác giả hiện đại lẫn lộn với ý nghĩa “hướng” của các phó từ đồng âm trong chạy ra, chạy vào, chạy lên, chạy xuống (đều mang trọng âm) (như Nguyễn Kim Thản chẳng hạn) của các vị từ lên, xuống, ra, đi, khi các phó từ này được dùng làm trạng ngữ cho các vị từ chỉ sự vận động hay việc gây khiến sự vận động.

Sự phân biệt trên đây có liên quan đến một hiện tượng ngữ pháp khá quan trọng được Trương Vĩnh Ký trình bày một cách đủ minh xác ở phần nói về danh từ trong cuốn ngữ pháp của ông: đó là cách diễn đạt ý nghĩa “cách” (case meaning) trong ngữ pháp tiếng Việt. Những điều ông trình bày trong phần này đã bị các tác giả hiện đại có nhắc đến công trình của ông chê cười rất mực, coi như một trường hợp điển hình của việc gán ghép mô hình ngữ pháp La Tinh cho tiếng Việt. Nội dung của phần này như sau:

3. Theo Trương Vĩnh Ký, các danh từ của tiếng Việt dùng trong câu có thể ở vào một trong 8 cách (cas) sau đây (tr. 69):

Mở đầu thiên nói về cách của danh từ (tr. 68), ông viết: “Tiếng Việt không có Cách hiểu theo nghĩa hẹp như tiếng La Tinh. Vì Cách là sự biến hình trong vĩ tố (désinence) của từ tùy theo cái vai trò mà nó đảm đương trong câu; nhưng trong tiếng Việt, cái mà sự biến hình ấy chỉ rõ lại được thể hiện bằng những tiểu tố tiền vị (particules prépositives): đó dĩ nhiên không phải là Cách thực sự. Nhưng phân chia theo từng Cách là tiện lợi và minh xác; dù danh từ Cách không thích hợp và không đúng hẳn, chúng tôi vẫn xin dùng nó theo phép loại suy cho dễ hiểu, và xin định nghĩa Cách là những vị trí khác nhau của một danh từ tùy theo cái cương vị làm từ chính hay làm bổ ngữ cho một từ khác…” (tr. 68-69).

Sau đó, ông cho biết rằng việc dùng các “tiểu tố tiền vị” chỉ là bắt buộc khi nào có khả năng hiểu sai, chứ khi nào ý nghĩa Cách đã rõ nhờ ngôn cảnh thì đều có thể miễn (so sánh: Sách của thầy và Sách thầy; Đánh bằng roi sắt và Đánh roi sắt – tr. 69). Ngoài ra đối với từng Cách ông lại cho biết có thể diễn đạt ý nghĩa của Cách ấy bằng những phương tiện gì khác với phương tiện chủ yếu. Chẳng hạn ở đoạn nói về Công cụ cách, bên cạnh Cột bằng dây, ông còn cho Dùng dây mà cột, Lấy dây mà cột (tr. 76).

Điều này cho thấy rằng khi dùng khái niệm Cách, ông hiểu nó như một ý nghĩa ngữ pháp và ngữ nghĩa nhiều hơn là một hình thức ngữ pháp. Cái ý nghĩa ngữ pháp ấy chính là “Case meaning” của các nhà ngữ học của thập niên 70 của thế kỷ sau (đối lập với “Case form”). Như vậy ta thấy rõ không những Trương Vĩnh Ký không hề “gán” mô hình ngữ pháp tiếng La Tinh cho tiếng Việt (4), mà còn hiểu rõ khả năng và cách thức sử dụng khái niệm Cách cho những thứ tiếng không biến hình, điều mà gần một thế kỷ sau các nhà ngữ học phương Tây mới nghĩ đến (cf. Fillmore 1968).

Dù sao, nhiều tác giả viết về tiếng Việt trong khoảng những năm 50 – 70 ở nước ta có nặng lời chê trách Trương Vĩnh Ký cũng là điều có thể hiểu được: Vào những năm ấy người ta chưa biết chú ý đến nghĩa của câu, và chưa biết rằng Cách (hay nói cho minh xác hơn, ý nghĩa “Vai” trong câu) là một ý nghĩa phổ quát trong ngôn ngữ nhân loại, mà mọi thứ tiếng trên trái đất đều phải có cách diễn đạt và phân biệt (5)

Vậy Trương Vĩnh Ký là người đi trước các nhà ngôn ngữ học trong việc miêu tả các phương tiện diễn đạt ý nghĩa Cách trong một ngôn ngữ không biến hình xuất phát từ mặt sở biểu (6) và đáng được coi là người đi tiên phong trong việc xây dựng nền ngữ pháp cách (case grammar), một trong những thành phần chủ yếu của ngữ pháp chức năng hiện đại (7), mà mãi gần một thế kỷ sau (1968) mới được C. Fillmore gọi đúng tên và miêu tả khá kỹ lưỡng như một phổ niệm của ngôn ngữ nhân loại.

Có lẽ điểm đáng chú ý nhất trong việc phân xuất tám “cách” của Trương Vĩnh Ký là sự khu biệt minh bạch giữ ý nghĩa “đích” và ý nghĩa “hướng” trong khi miêu tả hệ thống cách của tiếng Việt. Có lẽ ông hơn một số khá đông các tác giả khác không biết đến sự phân biệt này (trong đó có cả Ch.Fillmore) chính là nhờ sự mách bảo của hệ thống biến cách của danh ngữ tiếng La Tinh. Trong tiếng La Tinh cổ điển, ý nghĩa “định vị” được biểu hiện bằng cách ablativus (in Roma “ở La-Mã”) dùng cho trạng ngữ chỉ nơi chốn, trong khi ý nghĩa “đích” đựợc biểu hiện bằng cách accusativus (eo Roman“tôi đi La-Mã” ) dùng cho bổữ. Còn ý nghĩa “hướng” thì được tiếng La tinh biểu hiện bằng những phó từ.

Vào khoảng thời gian từ 1958 đến 1959, trong những buổi sinh hoạt khoa học của Tổ Ngôn ngữ thuộc Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã diễn ra nhiều cuộc thảo luận về cách phân tích các loại bổ ngữ (hay trạng ngữ) có liên quan đến các động từ di chuyển (không rõ hướng) như đi, chạy, bước, nhảy, xông, ùa, phi, lao, bổ, nhào, đâm, về, qua, ghé, tiến, sang, lại, lăn, lần, chuyển, chảy, tràn, lấn, bơi, lội, lặn, trôi, trèo, leo, bò, trườn, chui, len, lẻn, chen, lấn v.v… đi trước một từ có nghĩa chỉ hướng như lên, xuống, ra, vào, tới, lui, đến, qua, sang… làm thành những tổ hợp hai động từ như chạy vào, đi ra, nhảy tới, lăn xuống v.v…Những buổi thảo luận này lôi cuốn mọi người trong tổ, những ý kiến được phát biểu khá phong phú, cho nên ai nấy đều thấy là bổ ích cho việc tìm hiểu ngữ pháp và ngữ nghĩa tiếng Việt.

Hối ấy, những ý kiến được phát biểu có thể chia làm ba khuynh hướng:

1. Cho rằng từ chủ yếu hay trung tâm của tổ hợp là từ thứ hai (từ đứng sau), được coi là làm thành nội dung của sự di chuyển, trong khi từ thứ nhất (từ đi trước) là một thứ trạng ngữ nói rõ cách thức hay phương thức của sự di chuyển. Chẳng hạn chạy vào có thể được phân tích thành “vào bằng cách chạy” (entrer en courant). Đại diện cho xu hướng này là GS Phan Ngọc, người sau này đã sáng lập ra “giả thuyết Phan Ngọc” nổi tiếng, được hoan nghênh nhiệt liệt khắp nước ta.

2. Cho rằng từ trung tâm của tổ hợp là từ đi trước. Chính từ đó (thường gọi là”động từ”) biểu thị sự di chuyển, còn từ kế theo chỉ là một trạng ngữ chỉ hướng của động từ di chuyển. Đại diện cho phái này là ông Nguyễn Kim Thản, sau này là Quyền Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam. Trong những buổi họp nói trên cũng như trong những sách vở được viết và xuất bản sau đó, ông đưa ra một luận cứ sắc bén, có nhiều sức thuyết phục, nói rằng nếu phân tích chạy vào là “vào bằng cách chạy”, thì chẳng lẽ nhìn vào buồng là “vào buồng bằng cách nhìn”, vàgửi thư đi Huế là “đi Huế bằng cách gửi thư”? Tuy phần phủ định của luận chứng này đã thuyết phục được phần lớn các thành viên của Tổ, nó vẫn còn một chỗ yếu, là các vị từ được ông sử dụng làm thí dụ (nhìn, gửi) để bác bỏ ý kiến của ông Phan Ngọc không có nghĩa ”di chuyển”, nên không ứng với những trường hợp được GS Phan Ngọc dẫn chứng. Giá ông dẫn những vị từ không chủ động (không chỉ hành động cố ý) như rơi, rụng, ngã, lạc…thì luận chứng của ông sẽ có trọng lượng hơn, vì khó có thể tưởng tượng ra những kết cấu như vào bằng cách ngã, đến bằng cách lạc, xuống bằng cách rụng, chủ yếu là do hai chữ bằng cách chỉ có thể kết hợp với những hành động có sử dụng (một cách có chủ ý) một phương tiện nhất định. (8)

3. Cho rằng trung tâm của tổ hợp là từ đi trước (động từ di chuyển), nhưng từ kế theo không nhất thiết là một trạng ngữ chỉ hướng. Nó có thể là một giới từ chỉ đích nếu sau đó có một bổ ngữ chỉ đích như trong câu Nó đi ra đồng. Ý kiến này, do các thành viên còn lại trong tổ chủ trương, có phần giống với ý kiến của Trương Vĩnh Ký khi ông phác hoạ lý thuyết về “ý nghĩa cách” của ông. Nguyễn Kim Thản cũng biết rõ ý kiến của Trương Vĩnh Ký và đã từng chế riễu ông Trương là “vẽ chuyện” để phân biệt đi ra với đi ra đồng, vì hướng và đích chỉ là một: trong hai trường hợp vừa dẫn, ta chỉ thấy có một hướng: hướng đi ra (di chuyển từ một chỗ hẹp tới một chỗ rộng hơn). Hồi ấy, xu hướng thứ hai tỏ ra thắng thế hơn hẳn hai xu hướng kia.

Gần bốn mười năm sau, năm 1995, mới có một nghiên cứu sinh, Nguyễn Thị Quy, nguyên là giảng viên trường đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, tìm được cách chứng minh quan điểm “ngữ pháp cách” cũa Trương Vĩnh Ký trong vấn đề trên, đặc biệt là sự phân biệt giữa trạng ngữ chỉ hướng và giới từ chỉ đích mà Nguyễn Kim Thản phủ nhận và chê cười một cách thoả đáng. (9)

Cô nghiên cứu sinh này dẫn ra một loại vị từ di chuyển mà ý nghĩa “hướng” đã chứa sẵn trong nghĩa gốc của nó. Chẳng hạn có những vị từ mà hướng di chuyển được bao hàm một cách tất yếu trong nghĩa từ vựng của nó là hướng đi xuống, như rơi, rụng, ngã, chúi, cúi, gục, đổ, rót, dẫm, gieo, chảy, trút, tụt. chìm, ngập, lặn, chôn, vùi v.v... Thành thử trạng ngữ chỉ hướng duy nhất có thể kết hợp với các vị từ ấy là xuống: rơi xuống, rụng xuống, ngã xuống, cúi xuống, đổ xuống v.v... chứ không bao giờ có thể có rơi lên, rụng lên, cúi lên… đó đều là những kiểu kết hợp chứa đựng những mâu thuẫn bất khả dung. Thế nhưng trong thực tế của tiếng Việt ta thấy những kết cấu như: rơi lên đầu, rụng lên thềm, gục đầu lên cuốn sách, gục đầu lên vai bạn, đổ hết trách nhiệm lên đầu nó, trút hết công việc lên vai tôi, rót mực lên trang giấy, rót dầu lên đống lửa, dẫm lên đầu con rắn, dẫm lên chân cô vũ nữ… là những cách nói hết sức bình thường và thông dụng. Nếu coi đó là những trạng ngữ chỉ hướng, ta sẽ rơi vào tình trạng mâu thuẫn đã nói trên. Từ lên trong những kết cấu dẫn trên không hề, và không thể nào, chỉ hướng di chuyển. Nó hoàn toàn tương đương với những giới từ có tác dụng làm cho danh ngữ đi sau đảm đương được vai nghĩa “đích” (target) của sự di chuyển (10) như vào, đến, tới, sang, qua, về v.v… (11)

Vả chăng nếu quan sát những thành ngữ có hình thức đối xứng như chạy lên chạy xuống, chạy ra chạy vào, ta đều thấy hai vế đối xứng của nó đều có mô hình trọng âm [0101], trong đó hai từ chỉ hướng di chuyển bao giờ cũng mang trọng âm rât rõ. Nếu so sánh với những kết cấu có giới từ đứng trước danh ngữ, bao giờ ta cũng có mô hình [ 01], trong đó giới từ thường xuyên mất trọng âm như trong bất cứ kết cấu giới ngữ (Giới từ+Danh ngữ) nào.

Dĩ nhiên, mô hình trọng âm của một kết cấu [vị từ + trạng ngữ chỉ hướng] trong một câu như:

Nghe tiếng gõ cửa, Nam vội vàng chạy ra mở

Có thể là [111] hay [101] chứ không phải [ 01], nhưng đó là do tác dụng của những quy tắc khác của trọng âm trong câu (xem cước chú 4)

Những điều nói trên cho ta thấy rõ thêm quan niệm của Trương Vĩnh Ký về cú pháp “cách” cho phép ông tìm ra những giải pháp hữu hiệu như thế nào.

4. Trương Vĩnh Ký là người đầu tiên xác định được rằng những từ như cái, con, cây, chiếc, bức, tấm, viên, là những danh từ “chỉ đơn vị” bên cạnh 200 từ chỉ đơn vị khác (trong đó có bộ, buổi, chặng, chuyến, đoạn, bản v.v…) (12) chứ không phải là một thứ “hư từ” như nhiều tác giả hiện đại tưởng lầm do sự loại suy với các quán từ (articles) của tiếng Pháp, tiếng Anh hay tiếng Đức. Sở dĩ như vậy một phần là nhờ ông đã khổ công lập một danh sách của tất cả các từ mà ông thấy cùng có những đặc trưng ngữ pháp y như cái, conv.v… gồm có 210 từ, trong khi các tác giả hiện đại (trừ Nguyễn Tài Cẩn) (2) không hề nghĩ đến việc lập một danh sách căn cứ trên những thuộc tính ngữ pháp của tất cả các từ được họ gọi là “loại từ” (classificateurs), coi đó như một từ loại (word class hay part of speech) riêng được quan niệm như một thứ hư từ hoàn toàn rỗng nghĩa gồm có 4,8, 12,16, hoặc 40 từ tùy từng tác giả (các tác giả này không nói cho ta biết 4,8, 12, 16 hay 40 từ đó là những từ nào; họ kể ra bốn năm thí dụ kèm theo hai chữ vân vân, đại khái như: “loại từ là những hư từ dùng để cho biết rõ thêm chủng loại của danh từ như cái, con, cây, cục, tấm, v.v” mà thôi). (Trong khi thực ra đó là một chức năng cú pháp – ngữ nghĩa mà hơn một ngàn danh từ có thể đảm nhiệm). (3)

Bản thân Trương Vĩnh Ký không liệt kê các thuộc tính ngữ pháp ấy ra một cách hiển ngôn: hồi ấy sách ngữ pháp không làm như thế. Và cũng có thể ông không hình dung được thật rõ đó là những thuộc tính gì. Mấy từ bị ông đưa nhầm vào danh sách có thể xác nhận điều đó. Nhưng bản thân cái danh sách khá dài và gần như không có chỗ nào nhầm lẫn của ông cho ta biết chắc rằng ông đã thực hiện việc lựa chọn một cách có suy nghĩ kỹ lưỡng. Vả chăng, cho dù ông không suy nghĩ gì bao nhiêu đến những tiêu chuẩn cần có để lập nên bản danh sách ấy, thì chính cái công việc thu thập và liệt kê ngần ấy từ cũng đã cực kỳ bổ ích cho ông, vì thế nào nó cũng mở ra trước mắt ông một toàn cảnh rõ nét với những chi tiết có sức mách bảo nhiều điều quan trọng về bản chất và công năng của những từ này. Ông khước từ dứt khoát cái thuật ngữ “loại từ” hồi ấy đã khá phổ biến trong giới ngôn ngữ học phương Tây, vì một cái danh sách hơn hai trăm từ hoàn toàn đủ cho ông thấy rằng trong đó may ra chỉ có bốn năm từ có thể nói một cách gượng gạo là chỉ chủng loại (cái, con, người, cây, quả) nếu tách hẳn nó ra khỏi cách sử dụng nó trong danh ngữ và trong câu. Trương Vĩnh Ký cũng là người đầu tiên hiểu rằng danh từ hay vị từ đi sau cái, con v.v… là bổ ngữ của nó chứ không phải là trung tâm của ngữ đoạn như hầu hết các tác giả hiện đại (trừ Nguyễn Tài Cẩn) lầm tưởng.

Ta hãy xem hai danh sách danh từ sau dây của Trương Vĩnh Ký.

1. Các Danh Từ Số (Noms numériques) (13)

an ang áng ánh ánh bản bàn bận bậng bánh bao bầy bát bè bị bịch bịn bình bó bộ bọc bốc bọn bông bụi bụm buổi bữa bức bước cáp cặp cây cấp câu chày chấm chàng chặng chặp chén chìa chiều chình chòm chục chuyến chùm chúm chúng chuỗi cọc cối con cong cơn củ cục cung cung cuốn cuồng cữ dãy dây dĩa dỏ doi dội dùi đá đạc đài đãy đàm đám đấm đàng đảng đạo đạp đấu đém điều đọi độ đoàn đoạn đôi đời đồng đống đũa đứa đùi đùm đượng gã gánh gáo gàu giuộc gói hạt hèo hiệp hoa hoàn hồi hơi hòn hớp hột khạp kháp khi khoanh khúc lón lớp lũ lúc luồng lứa lượt lá lần lát lang liều lò lọ lối mâm manh mạng mặt mắt miếng miễng món mớ mối múi mũi muỗng mụt nãi nạm nắm nậm náng nghỉn ngoai người ngòi ngọn ngữ nháy nhắm nố nòi nùi nuộc nút ô ổ ôm ông ống phẩm phát phe phen phiên pho phồn phong phương phường quả quày quảy quan quận que quẻ rổ roi sãi sợi tạ tấc tay tấm táu thang thang tháng thằng thòng thùng tỉn tô tờ trái trang tụi túi vác về viên vò vốc vòng xách xấp xâu.

2. Những từ tổng quát và loại biệt để biểu thị một số thực thể trừu tượng (termes généraux et spécifiques pour exprimer certains substantifs abstraits)

bề bụng cách chứng điều lòng lời nết 
nghề phép sự tiếng tình việc vụ (14)

Dĩ nhiên những cuốn sách của Trương Vĩnh Ký viết về tiếng Việt không phải không có những nhược điểm, trong đó có cả những sự lầm lẫn do những định kiến “dĩ Âu vi trung” gây ra (15). Tuy ông biết khá nhiều ngôn ngữ phương Đông (tiếng Hán, tiếng Thái, tiếng Mã Lai, tiếng Hy Bá Lai, tiếng Ả rập v.v..) nhưng ông vẫn thông thạo các ngôn ngữ Rôman và German nhiều hơn, và lẽ tự nhiên ông chia sẻ với các học giả đương thời cái định kiến coi ngữ pháp La Tinh như một thứ ngữ pháp phổ quát. Ông không được trang bị những tri thức và phương pháp mà ngày nay đã trở thành quen thuộc đối với đông đảo sinh viên ngữ văn ở các nước phương Tây. Khi ông qua đời khá lâu người ta mới được học Saussure, Sapir và Shcherba.

Điều đáng ngạc nhiên hơn nhiều là trong hoàn cảnh đó mà ông vẫn có được những nhận định đúng đắn và tinh tế đến như vậy về ngữ pháp tiếng Việt. Trong lịch sử của ngành Việt ngữ học, ông là một trong những tác giả ít bị những định kiến “dĩ Âu vi trung” chi phối hơn cả, nhất là khi đem so với sách học tiếng Việt ngày nay. Kể cho đến bây giờ, ít có cuốn sách nào cung cấp cho ta nhiều thông tin về ngữ pháp tiếng Việt như mấy cuốn sách không lấy gì làm dày của ông. Trong mấy cuốn này không thiếu những phát hiện quan trọng mà ngày nay chẳng mấy ai nhắc đến, trong khi lẽ ra nó phải được những người đi sau tiếp thu và khai triển, đào sâu hơn nữa.

Chú thích:

(1) Phan Ngọc. Ảnh hưởng của ngữ pháp châu Âu tới ngữ pháp tiếng Việt. Sự tiếp xúc về ngữ pháp, trong cuốn “Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á”, Viện Đông Nam Á, Hà Nôi 1983. tr. 220 ss.,269

(2) Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan, Cơ sở tiếng Việt., Hà Nội,:NXB Giáo Dục, 1998 tr. 5-31:”Về ngữ pháp, tiếng Việt đã “sao phỏng ngữ pháp châu Âu”, mà cụ thể là ngữ pháp tiếng Pháp như cách nói của giáo sư Phan Ngọc. Và cái diện mạo mà chúng ta có được ngày nay của tiếng Việt là có một sự đóng góp hữu hiệu của hiện tượng sao phỏng này”

(4) Tiếng La Tinh có sáu Cách: nominativus, vocativus, génitivus, dativus, ablativus accusativius, chứ không phải tám Cách như trong cách chia màTrương Vĩnh Ký dùng cho tiếng Việt. Hình thái Cáchablativus của tiếng La Tinh tương ứng với sáu ý nghĩa Cách khác nhau: 1. Vai tác thể (nhân/vật tác động): dominõ (bởi chúa); 2. Nguồn (xuất xứ): ex urbe (từ thành phố); 3. Công cụ: lege (bằng luật); 4. Liên đới: cum reginà (với nữ hoàng); 5. Nơi chốn: in urbe (ở thành phố); 6. Đề tài: de interpretatione (về cách thuyết minh).Chính vì vậy mà Trương Vĩnh Ký, vốn xuất phát từ nghĩa, thấy cần chia thành ba cách khác nhau.

(5) Những công trình nghiên cứu về ngữ pháp phổ quát (Universal Grammar) ngày nay đã xác minh được rằng tất cả các ngôn ngữ đã được biết đến đều có phương tiện ngữ pháp để phân biệt ít nhất các ý nghĩa Cách sau đây: 1. Vai hành độïng; 2. Vai tác động; 3. Vai bị tác động; 3. Vai tiếp nhận; 4. Vai vị trí; 5. Vai mục tiêu; 6. Vai nguồn; 7. Vai công cụï; 8. Vai chủ thể mang trạng thái.

(6) Kể từ những năm 1970 đã có khá nhiều công trình lớn nhỏ nói về Cách trong tiếng Việt được xuất bản ở nước ngoài.

(7) Quan điểm chức năng không hiển ngôn của Trương Vĩnh Ký lộ rõ nhất ở chỗ ông không xếp các từ vào những ô từ loại cứng nhắc. Những thuật ngữ của ông như particule, prepositif, adverbe, appellatif v.v. chủ yếu đều dùng cho những chức năng cú pháp, chứ không phải những từ loại, vì vậy có nhiều từ được ông xếp vào nhiều mục khác nhau tùy theo cách dùng. Cũng giống nhiều nhà ngữ pháp chức năng hiện đại, ông không quan tâm đến vấn đề các từ đó có còn là một hay đã thành hai ba từ thuộc hai ba loại (ô) khác nhau, một trong những ngụy vấn đề làm nảy sinh những cuộc tranh luận kéo dài sặc mùi kinh viện mà các nhà ngữ học hình thức chủ nghĩa lao vào một cách hăng say nhưng lại hoàn toàn vô bổ đối với việc tìm hiểu bản chất và cách hành chức của ngôn ngữ: tìm xem ngôn ngữ dùng những phương tiện hình thức gì, ngữ pháp hay từ vựng, để biểu đạt những nội dung ý nghĩa gì.

(8) Trong tiếng Pháp, những ngữ đoạn như chạy vào, nhảy ra đều có thể được diễn đạt bằng những kiều nói mà Phan Ngọc dùng (lấy phân từ hiện tại làm trạng ngữ chỉ phương tiện hay cách thức cho vị từ trung tâm); nhưng đây là một chiến lược rất hãn hữu. Phần lớn các thứ tiếng châu Âu đều không dùng (cf tiếng Anh run in/run out (cũng dùng trạng ngữ chỉ hướng như tiếng Việt; trong khi tiếng Nga diễn đạt ý nghĩa hướng bằng một tiền tố (vxodit’/vyxodit’)

(9) cf. Nguyễn Thị Quy. Ngữ pháp chức năng tiếng Việt. Vị từ hành động và các tham tố của nó.TP. Hồ Chí Minh: XB Khoa học xã hội.1995.

(10) Ta biết rằng số giới từ “bẩm sinh” của tiếng Việt rất ít ỏi : chỉ có bốn từ: từ, với, bởi và bằng. Tất cả những giới từ còn lại đều vốn là những danh từ “khiếm khuyết” (defective) – như trên. dưới, trong, ngoài, – hay những vị từ (verbs) ngoại động như cho, hộ, giùm, ra, vào, lên, xuống, qua, lại, về, sang, đến, tới, những danh từ và vị từ này, khi được dùng làm giới từ, đều thường xuyên mất trọng âm, và đó chính là nét đặc trưng làm cho các giới từ (cũng như các tiểu từ tình thái như à, ư, đấy, đây, không, chứ, khu biệt rõ ràng với các thực từ tương ứng. Sở dĩ cụ Phan Khôi (Việt ngữ nghiên cứu. Hà Nội 1954) cho rằng người Việt toàn dùng sai giới từ chính là vị cụ không tính đến nét đặc trưng này (x. Tiếng Việt. Mấy vần đề Ngữ âm, ngữ pháp,ngữ nghĩa. tr . …)

(11) Trong những ngôn cảnh như thế này, tiếng Anh phải dùng đến cả trạng ngữ chỉ hướng lẫn giới từ chỉ đích (run out into the court hay leap up into the window)

(12) Ông gọi các từ này là “numéraux” hay “noms numériques” và định nghĩa là “từ dùng để chỉ và kê đơn vị” (mots qui servent à indiquer et à énumérer l’unité) (tr. 30).

(13) Trong danh sách này có một số danh từ chỉ có thể tính đến nếu xét cách dùng nó theo nghĩa phái sinh chứ không phải theo nghĩa gốc, vì nếu dùng theo nghĩa gốc, những từ như bao, bàn, bát, bè, bịch, bình, chén, chỉn, chình, chĩnh, đọi, đũa, gáo, gàu, kháp, lò, lọ, mâm. muỗng, ổ, ống,rổ, roi, thùng, tô. túi, đều là những danh từ khối (không đếm được, không thể lượng hoá). Dùng theo nghĩa gốc, đó thường là những từ chỉ đồ đựng, mà khi muốn lượng hoá hay đánh dấu [±xác định] người nói phải dùng đến những danh từ đơn vị làm trung tâm cho toàn danh ngữ (SS. Bán cho tôi hai cái chén và Bán cho tôi hai chén (rượu/chè))

(14) Đây là những danh từ “trừu tượng” thường dùng để “danh hoá” (nominali-ze – như ta thường nói ngày nay) những ngữ đoạn hay những câu, cải biến nó thành những danh ngữ (thường có nghĩa trùu tượng). Dĩ nhiên danh sách thứ hai nay chưa kể đủ những danh từ có công dụng danh hoá thường dùng ngày nay, có lẽ vì thời ấy những từ này chưa trở thành thông dụng.

(15) Có lẽ sai lầm nặng nề và có hại nhất của Trương Vĩnh Ký là tưởng rằng tiếng Việt có thì với tính cách là một phạm trù ngữ pháp. Vào thời của ông, tất cả các nhà ngữ học đều sai lầm như vậy, nhất là đối với tiếng Hán, vì người châu Âu đếu nghĩ rằng phân biệt quá khứ, hiện tại và tương lai là chuyện hoàn toàn tự nhiên, ngôn ngữ nào cũng phải có. Mãi đến những năm 1980 giới ngữ học mới bắt đầu biết rằng những thứ tiếng phân biệt ba thì hết sức hiếm hoi, và những tác giả như Ch. Li và S. Thompson mới phải viết những chương dài đến 53 trang để chứng minh rằng tiếng Hán không hề có thì, và chữ le (“liễu”) không bao giờ có nghĩa là “thì quá khứ”: đó chẳng qua là một kết quả hết sức khó tưởng tượng của một sự lầm lẫn thô bạo bắt nguồn từ những người châu Âu không được trang bị một vốn tri thức tối thiểu về ngôn ngữ học mà ra.


Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

BÀI HÁT CHÍNH THỨC XƯA NHẤT CỦA TRƯỜNG PETRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ ĐƯỢC GIỚI THIỆU TRONG BUỔI HỘI THẢO

 CAM VŨ

(nguồn: Kỷ Yếu Triển Lãm Và Hội Thảo Petrus Trương Vĩnh Ký)

Ky Yeu PK 2018 - 88

Trong quá trình tìm kiếm tài liệu cho cuộc hội thảo và triển lãm về Trương Vĩnh Ký, ban tổ chức đã nhận được một tác phẩm rất độc đáo: bài hát chính thức của Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký, nhạc của Lưu Hữu Phước, lời của ông Le Jeannic, Hiệu Trưởng người Pháp của Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký từ năm 1938 đến 1944.

Chúng ta được biết nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là người Nam, đã theo học xong bậc Trung Học tại Lycée Trương Vĩnh Ký năm 1940, sau đó đi học Y khoa tại đại học Hà Nội. Thời gian ở Hà Nội ông đã sáng tác rất nhiều nhạc phẩm kêu gọi lòng yêu nước của người Việt Nam như Hội Nghị Diên Hồng, Ải Chi Lăng, Bạch Đằng Giang, Kinh Cầu Nguyện, Hát Giang Trường Hận (Hồn Tử Sĩ)… và đặc biệt bài Sinh Viên Hành Khúc (Marche des Étudiants) sau đổi tên thành Thanh Niên Hành Khúc, rồi Quốc Dân Hành Khúc và thành bài Quốc Ca của Chính quyền Quốc gia Việt Nam, cho tới năm 1975. Riêng bài Chant du Lycée Pétrus Trương Vĩnh Ký thì có thể đoán nhạc sĩ viết trong thời gian 1939 hoặc 1940 là hai năm cuối ông học tại trường Pétrus Ký dưới quyền ông hiệu trưởng Le Jeannic là người viết lời.

Ky Yeu PK 2018 - 89

Ky Yeu PK 2018 - 90

Bài hát này được chuyên viên thư viện Phạm Lệ Hương trích từ Luận án Cao học ngành Sử (Maitrise d’histoire) nhan đề “Petrus J.B. Trương Vĩnh Ký (1837-1893) : un lettré cochinchinois entre deux cultures” Université de Paris Diderot, 1995 của Anne Madelin, có nguồn gốc từ kho tư liệu của ông Charles Trương Vĩnh Tống, hậu duệ của cụ Trương Vĩnh Ký.

Ban tổ chức nghĩ rằng bài hát này cần được trình bày trong chương trình hội thảo như một tài liệu lịch sử của ngôi trường mang tên nhà bác học, và đã may mắn mời được nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát, một người đầy đủ khả năng về âm nhạc và tiếng Pháp để chỉ trong một thời gian ngắn tập dượt, có thể trình bày bài hát chính thức của trường Pétrus Ký trong buổi hội thảo về Trương Vĩnh Ký.

Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát là một cựu học sinh Petrus Ký. Trước cử tọa ông cho biết người anh ruột của mình, nguyên Giám đốc trường Quốc Gia Âm Nhạc tại Sài Gòn trước 1975 Nghiêm Phú Phi cũng là một cựu học sinh trường này, và hai người em của ông cũng thế.

Nhạc sĩ đã cung kính cúi chào và nói lời thăm hỏi giáo sư Lê Xuân Khoa, vị thầy đã dạy ông tại trung học Trương Vĩnh Ký hồi cuối thập niên 1950, đang có mặt tại phòng hội thảo.

Đối với hầu hết các cựu học sinh trường Petrus Ký hiện diện trong buổi hội thảo thì bài hát này khá xa lạ, lý do dễ hiểu vì nó đã quá xưa, thời họ theo học tại trường với chương trình Việt thì nó không còn dùng như bài hát chính thức của trường nữa. Tuy nhiên khi nghe nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát đàn hát bài này, tất cả đều cảm động pha chút bùi ngùi, vì một mảng quá khứ của ngôi trường thân yêu như từ xa xưa đang dội vào tâm hồn họ, gợi lên biết bao hình ảnh trang nghiêm và thân mật của ngôi trường mà họ hãnh diện được theo học từ thời còn rất trẻ…

Cam Vũ

Ky Yeu PK 2018 - 91

Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phát đang đàn hát bài Chant du Lycée Pétrus TrươngVĩnh Ký

Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

CÁC THẦY GIÁO TOÁN TẠI TRƯỜNG PETRUS KÝ CỦA TÔI.

 

Hướng đến kỷ niệm 100 năm thành lập Trường Petrus Ký – chuyên Lê Hồng Phong, xin trân trọng giới thiệu bài viết "Các Thầy Giáo Toán tại Trường Petrus Ký của tôi" của thầy Võ Anh Dũng. Qua những hồi ức chân thực và giàu cảm xúc, tác giả đã tái hiện hình ảnh các thầy giáo Toán tài năng, tận tâm, những người đã góp phần làm nên truyền thống hiếu học và danh tiếng của ngôi trường có bề dày lịch sử gần một thế kỷ.


Tôi học trường Petrus Ký 6 năm, 1966 – 1972, trải qua các lớp: Thất1, Lục1, Ngũ1, Tứ1 (sau đổi thành 9/1), 10B1, 12B1. Sáu năm học Toán với tám Thầy, mỗi người một vẻ, mỗi người một tính cách nhưng tất cả đều để lại những ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp góp phần tạo nên phong cách người Thầy của tôi khi tôi nối nghiệp các Thầy sau này.
Sau những ngày choáng ngộp, hảnh diện của các chú bé lần đầu bước vào ngôi trường Petrus Ký cổ kính, to lớn, xinh đẹp, danh tiếng chúng tôi trở lại thực tại để làm quen với những thay đổi trong cách dạy, cách học của bậc trung học. Thay vì một Thầy một trò như lúc học tiểu học nay thành 10 môn với 10 Thầy Cô: Quốc văn, Sử địa, Pháp văn, Công dân, Toán, Lý hóa, Vạn vật, Hội họa, Nhạc, Thể dục. Môn nào cũng mới lạ. Mới từ nội dung chương trình cho tới cách dạy, cách học.
Môn Toán lớp Thất1 năm học 1966 – 1967, do Thầy Trần Văn Thưởng phụ trách. Lúc dạy chúng tôi, Thầy là một thầy giáo trẻ, mới 29 tuổi nhưng Thầy chửng chạc, nghiêm trang không thua gì những thầy cô đứng tuổi như giáo sư hướng dẫn của chúng tôi là Thầy Thẩm Túc. Thầy có những yêu cầu rất rõ ràng và nghiêm khắc. Riêng về tờ giấy làm bài kiểm tra thôi, Thầy bắt buộc nó phải được gỡ ra cẩn thận từ tập chớ không giựt mạnh tạo ra lỗ thủng to ở giữa, khung cho điểm và lời phê phải đúng số ô và nội dung qui định. Hể không đúng là a lê: zero tất! Lớp đệ thất học vào buổi chiều. Những giờ học đầu buổi trưa, chiến thắng buồn ngủ là một cuộc chiến đấu. Tuy nhiên, trong giờ học của Thầy, bạn nào lỡ dại ngáp là thôi rồi: zero!
Sau này khi học Đại học Sư phạm Sài gòn với Giáo sư Nguyễn Văn Trường, nguyên Tổng trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục của Thủ tướng Trần Văn Hương, tôi gặp lại phong cách Thầy Trần Văn Thưởng. Khi đó các lớp bắt đầu học lúc 8 giờ, tức 7 giờ hiện nay, thì riêng lớp Thầy Trường học từ 7 giờ, tức 6 giờ sáng hiện nay. Khi Thầy cầm cục phấn mà bạn sinh viên nào mới đến lớp thì Thầy nói: Xin lỗi anh, tôi dã cầm phấn, mời anh đi về!
Môn Toán lớp đệ thất gồm hai phần: hình học và đại số. Phần hình học lúc đầu rất là lạ đối với chúng tôi. Tại sao phải thừa nhận những điều hiển nhiên đúng: Qua hai điểm phân biệt có một và chỉ một đường thẳng? Tại sao phải chứng minh hai tam giác bằng nhau khi mà sự thực như vậy? Tuy nhiên với lời giảng rõ ràng, khúc chiết Thầy đã tạo cho chúng tôi sự thích thú trong những giờ Toán của Thầy. Trong vài tháng đầu, có bạn không giữ đúng các qui định của Thầy và Thầy không ngại ngần cho con zero tròn trĩnh. Không biết những con zero này Thầy có thực sự tính vào điểm số không hay là chỉ dọa để chúng tôi học hành đàng hoàng. Môn Đại số tôi nhớ học những phần cụ thể hơn Hình học như số nguyên, tính chia hết, bội số, ước số, số nguyên tố…
Sang lớp đệ lục 1, năm học 1967-1968, chúng tôi lại được Thầy dạy tiếp môn Toán. Năm này Thầy trò đã quen thuộc nhau nên chúng tôi học dễ dàng. Tôi nhớ môn Hình học năm này đa dạng, phong phú hơn: sự song song, vuông góc, hình bình hành, hình thoi, chữ nhựt, vuông… Đại số thì bắt đầu học giải phương trình. Năm học này do chiến sự, Tết Mậu thân 1968, nên chúng tôi chỉ học hết đệ nhất lục cá nguyệt mà thôi. Năm đó nghỉ Tết rồi nghỉ học luôn đến tận năm học sau.
Thầy Thưởng là người Thầy Toán đầu tiên bậc trung học của tôi và cũng là một trong những Thầy tạo cho tôi ấn tượng sâu sắc. Sau này khi nối nghiệp Thầy dạy Toán, tôi mới thấy hết những cái hay của Thầy. Thầy chẳng những khai phá đầu óc non nớt của chúng tôi bằng những lý luận toán học chặt chẽ mà còn rèn luyện nền nếp học tập, cách suy nghĩ hợp lô gic cho chúng tôi. Chính những kiến thức toán học này đã xây dựng cho chúng tôi cách suy luận, cách hành động phù hợp với những “định lý” của cuộc sống. Đây chính là mục đích của việc dạy và học toán. Thầy đã trang bị kiến thức toán để chúng tôi tiếp tục con đường học vấn đồng thời đã góp phần xây dựng nhân cách của chúng tôi. Sự nghiêm khắc của Thầy đã góp phần rèn luyện chúng tôi khép mình vào khuôn khổ, học hành có kế hoạch. Thầy đã làm đầy đủ chức năng của người Thầy: dạy chữ và dạy người.
Năm 1978 tôi may mắn được về giảng dạy tại trường mình và gặp lại Thầy. Thầy vẫn điềm đạm, nghiêm trang như xưa. Vui biết bao nhiêu khi gặp lại người Thầy kính mến của mình. Vài năm sau Thầy đi dịnh cư ở Mỹ. Năm 1994 Thầy về Việt Nam chơi. Tôi được hân hạnh họp mặt với Thầy tại nhà một người bạn của Thầy và tôi. Thầy bảo tôi: Khi nào Dũng qua Mỹ chơi thì ghé ở nhà Thầy, nhà Thầy rộng lắm. Ôi! Thương quá Thầy ơi! Tôi chưa kịp thực hiện lời mời của Thầy thì Thầy đã mất năm 2022.
Năm học 1968 – 1969 tôi lên lớp đệ ngũ 1. Hơn nửa năm ở nhà rong chơi chúng tôi mới quay lại trường. May mắn đã mĩm cười với lớp chúng tôi. Trãi qua mấy đợt chiến trận khốc liệt nhưng cả lớp vẫn an toàn, vẫn còn đầy đủ mặc dù có mấy bạn nhà cửa tiêu tan phải vào khu tạm cư sau trường, sân Lam sơn, tạm trú đợi xây dựng những khu chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Minh Mạng… Năm này chúng tôi học toán với Thầy Huỳnh Văn Lắm. Thầy rất nhẹ nhàng, từ tốn nhưng cả lớp đều học hành rất đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Tôi không còn nhớ Thầy phải giải quyết thế nào về việc nửa năm kiến thức đệ lục mà chúng tôi chưa học nhưng cả lớp đã học như bình thường. Môn hình học bắt đầu khó hơn với những bài toán về tam giác đồng dạng, hệ thức lượng trong tam giác… môn đại số với phương trình, hệ phương trình. Môn toán là một trong những môn học ưa thích của lớp chúng tôi nhờ vào cách dạy rõ ràng, nhẹ nhàng của Thầy. Cuối năm học, một số bạn lớp tôi cùng các lớp khác đến học lớp hè của Thầy ở chợ Nancy, gần nhà Thầy. Sau này, khi về trường giảng dạy gặp lại Thầy tôi biết thêm tài giảng dạy của Thầy. Đó là Thầy làm Giáo viên chủ nhiệm (tương tự Giáo sư hướng dẫn thời mình học) cực kỳ tốt. Lớp nào dù tệ đến đâu giao cho Thầy thì chỉ một thời gian ngắn là đâu vào đấy: ngoan ngoản, tuân thủ nội quy học sinh đầy đủ… ai cũng phải khen. Cách giáo dục học sinh của Thầy hay ở chỗ là không cần hò hét, không cần dùng phương pháp mạnh mẽ của bàn tay sắt mà học sinh nghe lời khiến ai cũng nể phục. Một thời gian sau Thầy và gia đình đi định cư ở Mỹ, ở Bắc Cali, gần nhà một bạn cũ cùng lớp nên lâu lâu tôi có dịp hỏi thăm Thầy. Thầy mất tháng 12/2025 thọ 90 tuổi.
Năm học đệ tứ (sau đổi thành lớp 9), năm học 1969 – 1970, đệ nhất lục cá nguyệt lớp tôi học với Thầy Đặng Quốc Khánh. Thầy hơi đậm người, nét mặt nghiêm trang nhưng không khó tính. Tôi nhớ năm này học về đường tròn, tứ giác nội tiếp, phương trình bậc hai… Nội dung học khó hơn những năm trước (có lẻ trước đó có kỳ thi Trung học đệ nhất cấp nên có độ khó nhất định chăng?). Thầy Khánh giảng dạy tốt, chúng tôi học tương đối dễ dàng. Tính Thầy nghiêm nghị, ít khi đùa trong lớp. Năm 1974 khi học khoa Toán Đại học Sư phạm Sài gòn, tôi đi dạy thực tập và giờ đầu tiên lên lớp tôi dạy lớp 10 trường Petrus Ký, lớp của Thầy Khánh đang dạy. Thầy đã chuẩn bị lớp cho tôi rất là chu đáo, giờ dạy tốt cũng là nhờ Thầy lo lắng chu toàn. Sau này, những cuộc họp mặt cựu học sinh Petrus Ký ở Nam Cali đều thấy Thầy tham dự. Rất mừng Thầy khỏe mạnh, minh mẫn.
Qua đệ nhị lục cá nguyệt, lớp tôi đổi Thầy dạy toán. Thầy Trần Văn Thử thay Thầy Khánh. Thầy Thử nguyên là Hiệu trưởng trường năm chúng tôi mới vào trường và cũng là thân phụ của một bạn trong lớp. Đúng như Thầy Nguyễn Thanh Liêm đã nhận xét: “Đây là Ông Hiệu trưởng hiền từ nhất từ xưa đến giờ. Rất là dễ dãi với mọi người.”. Thầy rất hiền trong giảng dạy, có lẻ chỉ có Thầy Lê Tiến Đạt dạy chúng tôi môn Vạn vật lớp 10 mới có thể so sánh với Thầy về sự dễ dãi mà thôi. Trong giờ Thầy, hể Thầy quay lưng lại lớp để ghi bảng thì y như rằng cả lớp tha hồ đùa giỡn, nghịch ngợm. Thầy không hề la gì chúng tôi cả. Tôi nghe Thầy Trần Thành Minh kể lại lúc Thầy Thử làm Hiệu trưởng thì trong lần thi tuyển vào lớp đệ thất của trường, các quan chức ở Bộ Giáo dục có gửi một danh sách học sinh đề nghị trường nhận vào học. Danh sách này khá nhiều. Thầy Thử hỏi ý kiến Thầy Cam Duy Lễ, Trần Thành Minh đang là Giám học và Phụ tá Giám học. Thấy danh sách quá nhiều nên hai Thầy không đồng ý nhận. Tuy nhiên trước áp lực của Bộ và do tính tình hiền lành cả nể, Thầy Thử nhận số học sinh này vào trường. Thầy Lễ, Thầy Minh bất mãn nên nộp đơn xin từ chức Giám học, Phụ tá Giám học. Biết chuyện này các quan chức ở Bộ làm giấy thuyên chuyển hai Thầy đi trường khác. Lúc đó Tổng trưởng Bộ Giáo dục là Thầy Nguyễn Văn Trường mà tôi có nói đến ở trên. Thầy Trường chính là em Ông Nguyễn Văn Lộc, nguyên Thủ tướng miền Nam. Thấy đề nghị thuyên chuyển Thầy Trường không ký thuận và bảo: Tôi biết hai anh này rất đàng hoàng không thuyên chuyển đi đâu hết! Khoảng năm 1973, 1974 thầy Thử bệnh và mất tại nhà bên cạnh trường. Tôi có đến tiễn đưa Thầy an nghỉ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.
Năm lớp 10, 1970 – 1971, chúng tôi học toán với Thầy Hoàng Ngọc Quỳ.Toán lớp 10 tương đối khó, học hàng điểm điều hòa, vị tự, tịnh tiến, phép quay, dấu nhị thức bậc nhất, tam thức bậc hai… Năm này trong lớp, tôi và nhiều bạn, đang học song song lớp 11 ở trường ngoài, chuẩn bị thi Tú tài 1 nên hầu như không học gì ở lớp 10 cả. Đúng là học lớp 10 bê bối nên tôi không nhớ Thầy Quỳ dạy thế nào chỉ còn ấn tượng Thầy dạy môn vạn vật năm đệ lục mà thôi.
Sang năm học tiếp theo, 1971 – 1972, tôi không học lớp 11 mà lên lớp 12 sau khi đậu Tú tài 1 và được tuyển bổ sung vào trường. Môn Toán do hai Thầy dạy: Thầy Cam Duy Lễ dạy giải tích, hình giải tích, phép biến đổi điểm; Thầy Phan Lưu Biên dạy tân đại số và điểm động học.
Về Thầy Cam Duy Lễ, tôi xin trích lại bài viết tưởng nhớ Thầy:
“Ngày hôm qua, 06/9/2016, tiễn đưa Thầy về Vũng Liêm, Vĩnh Long. Thầy yên nghĩ trong sân vườn tràn ngập bóng cây. Em có biết bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu ân tình với thầy trong 45 năm qua.
Năm học 1971-1972 cả lớp 12B1 Petrus Ký hào hứng được học Toán, phần giải tích và Hình học, với Thầy. Vật lộn với những bài toán Phép biến đổi điểm: tịnh tiến, vị tự và đặc biệt là phép nghịch đảo mới có được cảm giác sảng khoái khi giải được những bài khó của Thầy. Có bài Thầy cho mà đề bài đã dài hơn trang A4. Làm được bài nào là thấy đã bài đó. Học với Thầy em biết thêm được cái đẹp của Toán, biết thêm những ý nghĩa sâu sắc của việc học Toán. Sự thích thú mà Thầy đem lại qua những giờ Toán đã góp phần giúp em lựa chọn khoa Toán khi thi vào Đại học Sư phạm.
Năm 1978, sau 2 năm dạy trường Chu Văn An, em may mắn được về dạy tại trường cũ thân yêu; được vào tổ Toán do Thầy làm Tổ trưởng. Phải nói về dạy ở trường mình là một điều tuyệt vời và ở trong tổ Toán lại càng tuyệt vời hơn nữa. Em trở lại là một người học trò học hỏi kinh nghiệm của những Thầy Cô yêu mến của mình. Em đã học được nhiều điều từ cách dạy, cách xử lý vấn đề, cách giáo dục học sinh… của Thầy. Em luôn trân trọng giới thiệu Thầy với các học sinh của em, nói với các em rằng Thầy là Thái Sư phụ. Thầy rất quan tâm đến lời giải hay, đẹp và nhất là có tính sư phạm. Nhớ lúc bộ đề tuyển sinh đại học còn thống trị việc dạy và học. Có những bài toán mà lời giải trong sách như từ trên trời rơi xuống, không biết trả lời học sinh tại sao tìm ra cách giải. Một lần họp tổ, Thầy treo giải một thùng bia cho lời giải đẹp của một bài toán trong bộ đề. Sau đó trong tổ đưa ra 6 lời giải khác nhau. May mắn Thầy không phải “chung độ” 6 thùng bia vì mọi người đều đồng ý 6 lời giải này cũng chưa hay. Cuối cùng lời giải đẹp lại đến từ một học sinh! Trường hợp này giống như nhà sư Hư Trúc giải thế cờ vây. Vì Thầy Cô có kinh nghiệm nên không chọn cách khai triển mà mọi người cho rằng sẽ phức tạp thêm. Ai ngờ chính vì làm phức tạp ra lại rút gọn lại bất ngờ.
Những ngày tháng cùng tổ Toán với Thầy dù không có những lần nhậu “long trời lỡ đất” như thời ở Chợ Đũi trước đây của Thầy với Thầy Tạ Ký, Thầy Tôn Thất Trung Nghĩa… nhưng cũng “lúy túy càn khôn”. Làm sao quên được những đêm đến nhà Thầy xem Euro, World Cup. Giữa khuya mới thi đấu nhưng từ chiều đã tụ tập đông đủ. Lai rai, bàn chuyện trên trời dưới đất và cuối cùng là ngủ lăn quay chẳng biết gì đến trận đấu. Sau đó nhóm “thân hữu” mở rộng được thành lập mỗi tháng gặp nhau một lần. Nhớ biết bao nhiêu không khí thân thương, vui vẻ, gần gũi của những lần họp mặt. Có lần Thầy mang đến một chai rượu mà chưa ai uống qua. Anh em đã thỏa thuận với nhau trước chọc Thầy nên khi uống không ai khen lấy một câu. Thầy thấy kỳ nên uống xong mới hỏi: Sao tụi bây? Uống được không? Tụi này mỗi đứa chê một câu, đại khái chai rượu gì mà bằng sành, chẳng nhìn thấy rượu đâu, uống cũng thường thôi. Thầy hơi quê bảo: Nhưng theo phép lịch sự của tao đem tới tụi bây phải khen chứ. Lúc đó mọi người mới cười ầm lên bảo ngon lắm sư phụ ơi! Đó là chai Chivas 21.
Nhớ Noel năm nào cách nay chắc khoảng 25 năm anh em cũng tụ họp vui với nhau. Lúc 2 giờ sáng một Thầy chạy đến nhà mình báo tin Thầy bị té xe đang ở bệnh viện (lúc đó chưa có điện thoại di động). Hết hồn vội vã cùng chạy vào bệnh viện thì may mắn Thấy chỉ bị mẻ xương ở gò má mà thôi. Các bạn lại phân công mình một việc khó là chạy ra nhà báo tin cho Cô. Thôi thì Thầy mạnh khỏe là mừng rồi nên cũng ráng gồng mình làm nhiệm vụ. Sau này khi con Thầy làm bác sĩ bệnh viện NĐ1, Thầy thường nói với bạn bè có gì cần giúp thì cứ báo và những trường hợp đó Thầy đều tận tình giúp đỡ.
Còn biết bao nhiêu chuyện buồn vui nữa Thầy ơi!
11g30 đêm 02/9/2016, thầy Trần Thành Minh gọi điện thoại báo tin Thầy bị té xuất huyết não chắc không qua khỏi. Chưa kịp bàng hoàng, sáng sớm chạy đi thăm Thầy thì Cô gọi báo Thầy đã mất.
Làng giáo Toán Sài gòn mất đi một cây đại thụ. Tụi em mất đi một con chim đầu đàn. Nỗi buồn này biết bao giờ nguôi! Bây giờ những lần ngồi vui vẻ, sảng khoái với Thầy chỉ còn trong mơ, trong hồi tưởng.
Thôi chỉ còn biết an ủi rằng Thầy ra đi nhẹ nhàng. Trong lòng Thầy lúc nào cũng vui vì con cháu thành đạt, hiếu thảo.
Thầy ơi, những hình ảnh, những kỷ niệm của Thầy sẽ luôn giữ mãi trong lòng người thân, trong lòng bạn bè và trong lòng những đứa học trò của thầy.
Rồi đây tụi em, dân cựu học sinh Petrus Ký, mỗi khi ngồi với nhau sẽ nhớ tới Thầy biết bao nhiêu.”
Thầy Phan Lưu Biên giảng dạy chúng tôi phần tân đại số: luật nội hợp, nhóm, vành, trường, số tạp, điểm động học… Thầy dạy dễ hiểu, rõ ràng. Đề thi tú tài 2 năm đó có một bài thuộc phần này và đa số chúng tôi làm dễ dàng. Khi dạy, Thầy có sử dụng sách do Thầy Trần Thành Minh, Lê Văn Đặng và Thầy cùng biên soạn, nhà xuất bản Trí Đăng phát hành. Năm đó Thầy lái chiếc xe LaDalat mới tinh đi dạy. Tôi nhớ có hỏi Thầy và Thầy bảo: Tiền bản quyền viết mấy quyển sách toán đó. Theo như Thầy kể, lúc nhỏ ở Quảng Nam đi học trễ nên phải làm giấy tờ nhỏ tuổi thành sinh năm 1941 thay vì 1938. Khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài Gòn, Thầy đậu á khoa nên chọn nhiệm sở là trường Petrus Ký. Sang năm 1972 – 1973, Thầy về Nha Khảo thí phụ trách ra đề thi tú tài. Tới năm 1975, Nha Khảo thí bị giải tán Thầy chuyển về dạy trường Bổ Túc cán bộ ở Thủ Đức. Khi trường này giải thể, Thầy lại dạy trường mình cho đến khi về hưu. Hiện Thầy đã 86 tuổi nhưng rất khỏe. Hằng tháng vẫn từ nhà phía cầu Bình Lợi xuống họp mặt cùng bạn bè.
Trên đây là tám Thầy đã dạy môn toán tôi ở trường Petrus Ký. Tuy nhiên là thiếu sót to lớn nếu tôi không viết về hai Thầy Cô gần gũi cũng như nổi tiếng ở trường ta.
Người đầu tiên tôi muốn giới thiệu là Thầy Trần Thành Minh. Thầy không dạy tôi ở trường nhưng tôi học ở Thầy rất nhiều điều trong suốt thời gian làm việc chung với nhau. Về trường vài năm, tôi làm Thư ký Hội đồng (tương tự Phụ tá Giám học trước đây) còn Thầy làm Phó Hiệu trưởng. Cùng làm việc với Thầy tôi đã học được phuơng pháp làm việc, phuơng pháp giảng dạy… Nghề xếp thời khóa biểu khi chưa có sự hỗ trợ của máy tính là tôi học từ Thầy Minh và Thầy Huỳnh Thanh Nghiêm (dạy môn Pháp văn). Đặc biệt, tôi được tham gia cùng Thầy và Thầy Biên viết các quyển sách bài tập toán, thay vị trí Thầy Lê Văn Đặng trước đây. Dĩ nhiên viết mấy cuốn sách nhưng tiền bản quyền chẳng đáng là bao không như Thầy Phan Lưu Biên trước kia viết sách mua được xe hơi. Thầy cũng là cựu học sinh Petrus Ký. Hiện nay Thầy Minh 87 tuổi, vẫn khỏe, hằng tháng vẫn đến họp mặt cùng bạn bè đồng nghiệp hưu trí.
Người tiếp theo tôi xin giới thiệu Cô Nguyễn Thị Khả, Cô giáo dạy toán duy nhất của trường Petrus Ký khi đó. Dù học hay không học Cô nhưng hể là học sinh Petrus Ký thời Cô dạy là phải biết Cô qua câu: Nhất Khả, nhì Hương… Tôi cũng không hân hạnh học với Cô. Khi học lớp 9, một lần đi ngang qua lớp 9/5 hay 9/6 tôi nhìn thấy một hình ảnh mà vẫn còn ấn tượng đến bây giờ. Đó là hình ảnh cả lớp quỳ gối trên băng ghế mà vẫn nghiêm chỉnh nghe giảng, chép bài. Một điều mà khi xem danh sách học sinh trường năm học 1950 – 1951 tôi mới biết Cô cũng là cựu học sinh trường. Vào thời Cô, muốn thi tú tài, nam lẫn nữ, thì phải học trường Petrus Ký vì khi đó chỉ có trường mình mới có lớp bậc tú tài. Sau này khi cùng dạy với Cô mới thấy Cô nghiêm khắc nhưng hợp lý và công bằng. Học trò sợ Cô nhưng luôn kính nể, tôn trọng Cô. Cô xây dựng nền nếp học tập trong lớp rất khoa học, đâu vô đó. Lần cuối gặp Cô tại nhà khi thăm Cô lúc Cô bệnh. Cô mất năm 1979 khi Cô mới 49 tuổi.
Trên đây tôi ghi lại những ấn tượng, những kỷ niệm của các Thầy Cô dạy Toán khi tôi học tại trường. Những tình cảm với các Thầy Cô vẫn sâu đậm trong lòng tôi. Tôi luôn mang ơn các Thầy Cô đã bỏ công dạy dỗ chúng tôi nên người. Gần 60 năm, có thể một số chi tiết không được chính xác, lẫn lộn theo thời gian xin ghi lại đây để tưởng nhớ các Thầy Cô, để nhớ lại một thời đẹp đẽ của tuổi học trò đã qua.
Ẩn bớt